Danh mục

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 37

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 36


Hôm nayHôm nay : 1966

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 104592

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3605530

Đăng ký nhận bản tin

NHẬP EMAIL ĐỂ NHẬN ĐƯỢC NHỮNG THÔNG BÁO MỚI NHẤT TỪ CỔNG THÔNG TIN ĐÀO TẠO

Tìm kiếm

Ảnh nghệ thuật

PHÍA SAU TRẬN CHIẾN - Chương XVI (Tiểu thuyết của Vũ Quốc Khánh - Giải Hùng Vương lần VII, 2015

Thứ ba - 13/12/2016 21:08
PHẢN ÁNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ CỨU NƯỚC GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC GIAI ĐOẠN 1930-1975
Chương XVI
   
Hón được Tỉnh đội đề bạt đại đội phó đại đội hậu cần sau những chiến công ở Hà Tam.
Anh không những đã hoàn thành nhiệm vụ vận động, tổ chức đồng bào cung ứng quân lương cho bộ đội, mà còn cùng chi bộ Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng của Hà Tam. Khí thế của nhân dân lên cao, lấn át địch. Đồn lính canh ở đồn điền Phú Tam thực sự hoảng loạn sau trận đánh chống càn, buộc phải theo sự áp đặt của quần chúng cách mạng, trở thành lực lượng ủng hộ giải phóng. Lính ngụy ở đồn Núi Vũ bị phân tâm, già nửa khiếp nhược, manh nha tâm lí phản chiến. 
Giữa lúc đó, Bẩy Tiền và Hón được lệnh của Tỉnh đội triệu tập gấp lên gặp Tư lệnh sư đoàn Chu Lai để bàn công việc hiệp đồng chiến đấu.
Khi hai người lên đến sở chỉ huy dã chiến của sư đoàn thì đã thấy tỉnh đội trưởng Sáu Ngạn có mặt tại đấy rồi. Tỉnh đội trưởng giới thiệu với sư đoàn trưởng:
- Đây là cặp bài rất ăn ý trong việc cung ứng hậu cần cho toàn tỉnh đội của chúng tôi. Không những thế các đồng chí đó còn có khả năng lấn lướt địch, vừa lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều, vừa ép địch bằng cả sức mạnh quân sự và cả sức mạnh tinh thần.
Tỉnh đội trưởng quay sang giới thiệu với Bẩy và Hón:
- Còn đây là sư đoàn trưởng sư đoàn Chu Lai, người khiến địch phải run sợ gọi là "con hùm xám" Tây Nguyên.
Sư đoàn trưởng Nguyễn nở nụ cười thân mật như gắn bó với Bẩy và Hón tự bao giờ. Ông bắt tay từng người. Giọng ông đục và khàn, âm lượng phát ra như được trộn với lửa khói chiến trận nhưng ấm cúng, đầy tình nghĩa:
- Cho mình gửi lời chào đồng bào Hà Tam, đặc biệt thăm bà Hai Thái Bình nhé!
- Thế ạ, sư đoàn trưởng biết bả ạ?
- Biết chớ, mình đã ăn mòn bát, mòn đũa nhà bả và ông Năm Long mà.
- Dạ, chúng em sẽ thưa lại!
- Bây giờ ta bàn vào việc chính. Tới đây bộ đội giải phóng sẽ tổ chức đánh địch quyết liệt hơn tiêu diệt căn cứ Núi Cấm của chúng. Sư đoàn cần có đủ lương thảo nuôi quân. Hiện nay lực lượng hậu cần của sư đoàn đang gặp khó khăn, cần huy động lực lượng tại chỗ chừng hai trăm tấn gạo để kịp tiến độ đánh địch. Các đồng chí giúp sư đoàn được không?
Bẩy và Hón cùng bật dậy hỏi:
- Thời gian bao lâu ạ?
- Từ nay đến lúc tập kết đủ tại tổng kho Làng Mười là năm ngày.
Tỉnh đội trưởng Sáu Ngạn nói thêm:
- Biết rằng bà con đang vào vụ giáp hạt nhưng Tỉnh đội không thể không giúp sư đoàn, giúp sư đoàn tiêu diệt căn cứ xương sống của Mỹ ngụy thực chất là giúp chính mình để mở rộng vùng giải phóng của tỉnh. Thời gian gấp gáp và công việc hết sức khẩn trương, các đồng chí phải mở rộng địa bàn hoạt động ra các thành phố quanh Quảng Nam mới kịp. Tài chính sư đoàn sẽ cung ứng nhưng chắc chưa đủ, vẫn cần sự hỗ trợ của đồng bào. Đây là công việc rất khó, các đồng chí có một tiếng đồng hồ bàn bạc để trả lời sư đoàn trưởng!
- Dạ!
Sư đoàn trưởng Nguyễn và tỉnh đội trưởng Sáu Ngạn kéo nhau sang phòng bên hội ý để Bẩy và Hón ở lại bàn bạc. Bẩy thầm thì giọng đầy lo lắng:
- Anh thấy công việc thế nào? Em thấy đuối sức quá à! Liệu mình có gánh được không hè?
- Hai trăm tấn gạo tức là khoảng bốn chục xe đò nhỉ?
- Vâng! Mà không phải giao ở Hà Tam đâu. Từ đây lên làng Mười còn là cả một chặng đường xa, ngoài căn cứ Núi Vũ còn ba đồn bốt địch án ngữ dọc đường nữa.
- Mua đủ số gạo đó tại các thành phố, thị xã địch chiếm có thể thực hiện được, cái khó là khâu đảm bảo bí mật và khâu vận chuyển đến địa điểm tập kết.
- Anh nghĩ ra cách gì chưa chứ em thấy bí quá ta! Trước đây mình thu mua vài chục tấn trong cả tháng còn lừa mắt địch được chớ bây chừ …
Bẩy bỏ lửng câu nói trong tâm trạng rối bời.
- Hón định …
Đến lúc Hón băn khoăn. Một phút trôi qua mà sao Bẩy thấy lâu quá vậy. Cuối cùng Bẩy phải giục:
- Hón nói đi! Hón làm em sốt ruột quá trời luôn.
- Hón nghĩ mình phải phát huy kinh nghiệm vận chuyển quân lương qua trại lính Phú Tam, giải tỏa sự khống chế của địch ở tất cả các căn cứ án ngữ, mở thông tuyến đường vận chuyển từ Hà Tam lên Làng Mười. Đối với những đồn chưa xử lí được bằng binh vận thì phải căng địch ra mà đánh buộc chúng phân tán lực lượng, không còn sức nhòm ngó đến việc vận chuyển của ta.
- Nhưng lấy lực lượng ở đâu mà đánh địch?
- Việc này phải đề nghị tỉnh đội sử dụng các tiểu đoàn chiến đấu của tỉnh. Đại đội vận tải của ta tập trung cùng các hạt nhân cơ sở, trong đó lấy Hà Tam làm trung tâm tổ chức thu gom lương thực không chỉ ở địa phương mà phải tung lực lượng ra Đà Nẵng, vào Tam Kỳ, nếu sư đoàn cấp và nhân dân ủng hộ đủ tiền mua quân lương thì chỉ ba ngày ta có thể thu gom đủ theo yêu cầu của sư đoàn.
- Ồ, anh tính toán rất chu đáo, hết phần của em rồi đó nghen!
- Tất nhiên việc này phải có ý kiến thống nhất của tỉnh đội.
- Dạ, tí nữa anh trình bầy với chú Sáu Ngạn hè!
Bẩy Tiền âu yếm nhìn Hón.
Càng ngày Bẩy càng nhận thấy ở Hón phẩm chất của một người chỉ huy với những quyết sách táo bạo và hợp lí. Hình như ở anh hội tụ đủ tính cương nghị của người cầm quân biết lấy mục tiêu cần đến làm trọng. Anh biết lượng sức để lấy thế yếu của mình chế ngự thế mạnh của kẻ thù. Anh có gan tổ chức, khi thời cơ đến biết đem cái cương trường của người thắng thế ra áp đảo cái nhu thời của đối phương, để giành thắng lợi. Điều đó không chỉ bớt hi sinh cho ta mà còn bớt cả đổ máu cho địch. Hình như trong con người anh, ta và địch chỉ là khái niệm mang tính ý chí, còn lại vẫn mang nặng tình người. Các trận chiến đấu vừa qua cho thấy anh thiên về đánh thắng địch bằng thế, chứ không thắng bằng cách giết nhiều người không cùng chiến tuyến. Phải chăng đó là tâm thế của anh trong cuộc chiến này?
Hón biết vận dụng phương châm "Bám thắt lưng địch" của một người thượng võ. Cứ xem trận chống càn vừa rồi ở Hà Tam thì thấy. Khi sức liên quân Mỹ ngụy đồn Núi Vũ đang hăng, nếu ai sợ, không dám đến gần địch thì máy bay, phi pháo địch có thừa lực công kích sát thương. Nhưng Hón thì khác, Hón biết lựa thời bám địch, khiến pháo địch không dám bắn vì sợ "Pháo mi lại bắn vào lưng mi". Hón cho anh em vừa đánh vừa lùi, dụ địch vào bãi mìn để vỗ mặt, khiến địch sợ mà lui binh. Khi đã hoảng loạn, lập tức địch sa vào thế phục kích vu hồi của anh. Thế là ý chí của đối phương bất ngờ bị tan như bong bóng xà phòng, địch buộc phải tháo chạy. Mặc dù tháo chạy nhưng chúng cũng không dám dùng sức mạnh của phi pháo để chế ngự ta, bởi còn lính Mỹ bị thương và chết nằm tại chiến trường.
Hón đánh giặc mà như chèo thuyền trên nước lũ, lúc nào cũng ở trên thế nước. Hón dám cùng mệ Hai xông vào đồn điền Phú Tam, dùng uy của người thắng dọa kẻ non gan đang hoảng loạn, khiến chúng "thần hồn nát thần tính", phải chấp nhận để nhân dân qua mặt chuyển quân lương cho cách mạng.
Thế là đạn không mất một viên, người không đổ một giọt máu mà vẫn áp chế được kẻ thù. Đồn địch còn mà hóa mất, lại còn trở thành lá chắn bảo vệ ta.
Giống như người đánh cờ, Hón biết dùng thế thủ có mưu lược của mình chế ngự thế công, khiến đối phương buộc phải bộc lộ điểm yếu trong cách điều xe, khiển pháo. Thế là Hón ung dung đem tốt vây thành buộc đối phương thua trận.
Và bây giờ cũng vậy, bài toán tập trung và vận chuyển quân lương sẽ có lời giải khi Hón "căng địch ra mà đánh".
Đúng là Hón biết cầm quân, lại có phong thái "Nhàn". Phải chăng, chính phong thái đó đã tạo ra bản lĩnh đàn ông khiến cho Bẩy si mê Hón đến độ "chết mê chết mệt" thế này.
Nhiều lúc Bẩy tự hỏi mình: “Hón ơi, Hón có biết em yêu Hón đến thế nào không?”
Có những đêm, Bẩy mơ thấy được ở bên Hón, được thổ lộ hết nỗi lòng để cho Hón biết rằng ngoại trừ những lúc bận công bận việc, còn lại Bẩy nhớ Hón cả lúc ăn lúc ngủ, cả lúc bận lúc rỗi.
Bẩy nhớ Hón đến mức trăng lên quên ngắm, con nai giác quên nghe, lội qua suối nước trong không nghe tiếng róc rách reo vui, đi đường rừng vắng không nhìn đóa hoa nồng nàn khoe sắc.
Con mắt Hón như biết thôi miên Bẩy. Hón quay sang trái Bẩy muốn đi về phía trái, quay sang phải Bẩy muốn có luôn ở đằng bên phải. Bẩy ngơ ngẩn cùng Hón như tự bảo mình Hón là của Bẩy. Bẩy không thể hình dung không có Hón Bẩy sẽ thế nào? Không biết Hón có hình dung ra được không chứ Bẩy thì đúng là Bẩy chịu.
Bẩy da diết nhìn Hón.
Ở đây là sở chỉ huy sư đoàn, bao nhiêu con mắt cấp trên để ý, chứ nếu ở chỗ khác có lẽ Bẩy không thể giữ được lòng mình. Bẩy muốn chạy đến ôm ghì lấy Hón, muốn tỏ cùng Hón tình yêu say đắm của mình còn sau đó mặc kệ, muốn ra sao thì ra. Chưa bao giờ Bẩy thấy lòng mình man dại và cũng chưa bao giờ Bẩy thấy mình quyết liệt như thế này.
Hón ơi là Hón!
Giữa lúc đó sư đoàn trưởng và tỉnh đội trưởng bước vào.
Nhìn thấy Hón đăm chiêu dáng chừng đang tập trung suy nghĩ, tỉnh đội trưởng Sáu Ngạn băn khoăn:
- Khó dữ hè! Tìm ra được cách gì chưa vậy ta?
Bẩy nhanh miệng:
- Đồng chí Hón đã có cách, đang chờ xin ý kiến thủ trưởng ạ!
Sư đoàn trưởng hồ hởi:
- Thế thì tốt rồi, đồng chí cứ trình bầy, có gì ta cùng bàn thêm!
Hón trình bầy kĩ càng kế hoạch với cấp trên.
Kế hoạch của anh sẽ có hai bước:
Bước một, đại đội vận tải sẽ tập trung lực lượng cùng các hạt nhân ở cơ sở tổ chức vừa vận động thu gom gạo, tiền bạc ủng hộ của nhân dân, vừa thu mua quân lương ở các vùng địch tạm chiếm, sao cho trong ba ngày phải đủ số lượng sư đoàn trưởng yêu cầu.
Bước hai, đêm ngày thứ tư, tiểu đoàn chiến đấu của Tỉnh đội sẽ uy hiếp các căn cứ địch trên dọc tuyến đường Hà Tam đi Làng Mười. Binh vận được thì binh vận, không binh vận được thì đánh tiêu diệt, tạo điều kiện cho các xe hàng của ta chuyển gạo lên kho của sư đoàn.
Như thế sau năm ngày đại đội vận tải sẽ hoàn thành nhiệm vụ.
Tỉnh đội trưởng Sáu Ngạn nghe xong tỏ ý phân vân và cũng là cách khơi dậy tính tự chủ của cấp dưới:
- Hiện tại, cả bốn tiểu đoàn chiến đấu của tỉnh đang tập trung kìm chế địch phản kích tại các căn cứ vừa chiếm được của địch. Vì vậy nếu rút bớt ra đánh các đồn bốt trên đường vận lương của các đồng chí sẽ không đảm bảo an toàn cho các căn cứ đang giữ.
Bỗng Bẩy Tiền bật dậy:
- Hay là dùng lực lượng du kích các xã vây hãm?
- Du kích xã làm sao đủ sức đánh chiếm các đồn bót này?
Hón ngẫm ngợi một lát rồi chậm rãi:
- Em nghĩ ý kiến đồng chí Bẩy cũng có thể thực hiện được. Hiện nay, tinh thần binh lính ở các đồn bót này đang suy sụp. Ta chỉ cần dùng một lực lượng nhỏ bộ đội chủ lực mạnh để lấy danh còn lại kết hợp với du kích địa phương tấn công tiêu diệt đồn bót cứng đầu nhất. Quân địch đêm hôm đồn nào phải lo đồn ấy, không thể ứng cứu cho nhau được nên các đồn bót còn lại ta sẽ kêu gọi binh lính ngụy phản chiến. Chịu thì thôi, không chịu ta lại dồn quân áp chế tiếp.
Tỉnh đội trưởng thống nhất:
- Nếu thế thì được. Ngày mai tỉnh sẽ rút mỗi tiểu đoàn chiến đấu một trung đội về phối hợp với du kích các xã trong vùng để trinh sát, điều nghiên lập kế hoạch khống chế các đồn bốt này.
Hón rụt rè:
- Thưa sư trưởng. Con trai bà Hai bây giờ là đồn trưởng đồn Núi Vũ, tinh thần anh ta đang chán nản, không muốn tham chiến. Trận càn vào Nam Hà Tam vừa qua anh ta cáo bệnh không tham gia. Em muốn xin sư trưởng vài chữ về khuyên anh ta phản chiến.
- Thế à, thế thì tốt! Tớ sẽ ghi thư ngay. Núi Vũ là căn cứ Mỹ kép mạnh. Nếu đồn trưởng phản chiến, ta sẽ đỡ phải điều thêm quân tấn công.
- Dạ!
Chợt có một giọng hát ví Mường mượt mà từ xa vọng lại. "Đi đâu mà vội mà vàng/ Dừng chân đứng lại ăn nang ăn trầu/ Ăn rồi xin nhớ đến nhau/ Đừng như vôi bạc mà sầu lòng em".
Câu hát thật tình tứ, ý nhị. Hón biết đó là những câu hát của người Mường trong những lễ hội mùa xuân, nơi có sự thách đố giữa các nhóm trai gái. Cũng có khi là lời ca đối đáp trên nương rẫy. Người bên kia suối cất tiếng hát “ra lời”, người bên này “bắt tín hiệu” và đối lại. Câu hát qua, lời đối lại xua bớt đi nỗi vất vả của công việc, gắn kết thêm tình người.
Cái chất giọng này Hón nghe quen quen, vừa mềm mại, vừa thiết tha, đầm ấm. Anh đảo mắt ngước nhìn về phía nơi phát ra tiếng hát.
Động tác xoay người của Hón không qua được mắt sư đoàn trưởng:
- Hình như đồng chí Hón thích nghe bài hát này?
- Thưa sư trưởng, đây là bài hát ví của dân tộc Mường chúng em ạ.
- Thế à? Đấy là đơn vị văn công quân khu vừa mới về sư đoàn biểu diễn cho các đơn vị. Để tớ bảo anh chị em sang biểu diễn phục vụ các đồng chí một vài tiết mục.
- Thôi ạ. Công việc đang bận, xin cho chúng em về ngay kẻo tối!
Bẩy ý tứ xin phép.
- Ôi dào, nửa tiếng nữa hãy về! Mấy khi giữa chiến trường bom rơi đạn nổ mà được nghe văn công Quân khu biểu diễn. Các đồng chí chờ một chút.
Nói rồi sư trưởng gọi đồng chí liên lạc.
Lát sau, đội văn công lục tục kéo sang biểu diễn ngay tại lán của sư trưởng. Họ ríu rít hát các bài ca ngợi những người lính Trường Sơn, về sự hi sinh đóng góp của đồng bào các dân tộc Thượng cho cách mạng. Hón nghe như nuốt từng lời. "Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn/ Hai đứa ở hai đầu xa thẳm/ Đường ra trận mùa này đẹp lắm/ Trường Sơn Đông nối Trường Sơn Tây"
Hết bài hát, cô văn công có nụ cười xinh và đôi lúm đồng tiền duyên dáng tươi cười hỏi Bẩy:
- Chị ơi, chị thích nghe bài nào để em phục vụ!
Bẩy cũng cười:
- Tui chỉ biết gùi đạn, gùi gạo thôi, chưa bao giờ được nghe văn công Quân khu hát. Chị xem có bài nào hợp xin chị một bài!
- Thế em hát bài "Em là hoa pơ-lang" chị nhé!
- Dạ, nhưng có phải hoa pơ-lang là hoa gạo không chị?
Sư đoàn trưởng đỡ lời:
- Đúng thế! Vùng đồng bằng kêu bằng hoa gạo, vùng Tây Nguyên gọi là hoa pơ-lang đó.
- Dạ, chúng em đến các buôn của đồng bào thấy hoa này nhiều lắm.
Cô văn công cất giọng. Lời ca của người viết đã hay mà giọng người hát lại cao và sáng làm cho không gian như díu lại, khiến người nghe không khỏi nao lòng. "Tây Nguyên ơi, hoa rừng bao nhiêu thứ/ cánh hoa nào đẹp nhất rừng/ Tây Nguyên ơi ơi. Anh có nhớ buôn làng/ nhớ người con gái/ nhớ cánh hoa pơ-lang đẹp nhất rừng Tây Nguyên/ Tây Nguyên ơi… ơi, quê hương ơi… ơi/ Lòng nhớ anh em chờ như đá bên dòng suối/ dù nước cuốn không rời bên bờ đâu anh ơi/  có thương nhau xin nhớ lời."
 Cô văn công luyến láy đến đôi lần câu " Lòng nhớ anh em chờ như đá bên dòng suối/ dù nước cuốn không rời bên bờ đâu anh ơi/ có thương nhau xin nhớ lời" như một lời nhắc nhở, như một lời thỉnh cầu đầy ân tình, nghĩa cả khiến lòng Hón không khỏi xao xuyến, bồi hồi. Anh bất chợt nhớ về Mậu, người con gái anh yêu. Anh thầm nghĩ, anh mãi mãi xứng đáng với tình yêu của em, mãi mãi nhớ lời thề bồi cùng em nơi bản Mẫn yêu quý.
Bài hát đã kết thúc rồi mà dư âm của nó vẫn còn đọng lại, khiến không gian như dòng thác đổ xuống vụng, lưu luyến, quẩn quanh mãi mới theo dòng về suối lớn.
Bất chợt như nhớ ra điều gì sư trưởng Nguyễn vội hỏi:
- Còn bài hát ví ai đó vừa hát, sao các đồng chí chưa biểu diễn.
- Dạ thưa, bài hát ấy do đồng chí Thúy Mẫn hát, nhưng không nằm trong chương trình phục vụ của đoàn ạ.
- Không sao, đồng chí Hón đây muốn nghe, tôi thấy đồng chí ấy có vẻ thích lắm. Mời đồng chí Thúy Mẫn ra biểu diễn nhé! Ngày mai, các đồng chí này sẽ sống trong đạn lửa trước kẻ thù. Tôi muốn tiếp thêm tình yêu quê hương cho các đồng chí.
- Dạ!
Tự nhiên Hón thấy bồn chồn. Tại sao cô diễn viên này lại có tên trùng với bản Mẫn của Hón? Tại sao người này lại hát giọng hát ví quê Mường của Hón. Ruột anh bỗng nóng như có lửa đốt. Mắt anh nháy liên tục như nghe chim khách báo tin có người thân sắp đến nhà vậy.
Cô văn công quân phục đã bạc mầu, đầu đội mũ tai bèo lấp ló ngoài lán. Hón càng thấy bóng dáng thật quen.
- Dạ, em chào sư đoàn trưởng, chào các anh chị!
Cô quay lại. Bốn mắt gặp nhau. Cô văn công bỗng ngẩn người:
- Anh Hón!
- Mậu! Sao Mậu lại ở đây?
Hón lao đến ôm chặt người yêu trong tay. Mậu cũng không kịp để ý đến mọi người, ào tới, mềm người trong vòng tay của Hón.
Mọi người ngơ ngác. Hón vội reo lên phân bua:
- Thưa thủ trưởng, đây là cô Mậu, người yêu của em!
- Ô, thế à? Gặp nhau ở chiến trường thế này thì vui quá nhỉ?
Rồi sư đoàn trưởng quay lại nói với mọi người:
- Thôi, ta nhường chỗ này cho đôi bạn trẻ! Được không anh Sáu?
- Đồng ý, nhưng thời gian cho hai đồng chí chỉ được ba mươi phút thôi nhé! Sau khi hoàn thành công việc sư đoàn trưởng giao cho, Tỉnh đội và sư đoàn sẽ thu xếp cho đồng chí Hón và đồng chí Mậu gặp nhau mấy ngày, tha hồ mà tâm sự. Được không?
- Rõ!
Mọi người lui ra ngoài. Trong căn lán, chỉ còn Hón và Mậu. Họ xiết chặt nhau trong vòng tay yêu thương và mong nhớ. Mậu nép vào lòng Hón thổn thức:
- Anh vào chiến đấu ở đây à? Có nhớ em không?
- Anh vào Trường Sơn ngay sau đợt về phép ấy. Đánh nhau rồi lo hậu cần cho bộ đội miết đến giờ. Nhớ em nhiều lắm! Em có nhớ anh không?
- Em nhớ anh nhiều mà! Ngày nào cũng nhớ, chả ngày nào không!
- Anh cũng vậy!
Hón chưa kịp hỏi thăm gì về bầm thì Mậu đã hôn như mưa, như gió vào mặt anh. Mắt Mậu đầm đìa nước. Đôi môi mọng chín của Mậu tìm môi anh. Nghiến ngấu. Nồng nàn. Đắm đuối. Hón cũng đáp lại. Man dại. Cuồng si. Da diết.
Không ai nói với ai câu nào. Họ như đôi chim công quấn quýt bên nhau sau bao mùa xa cách, như đôi hoàng mang vần vũ cùng nhau cho bõ những năm tháng ngóng chờ. Không còn khoảng cách nào giữa hai bầu ngực nóng. Bàn tay đan chặt. Đôi chân áp sát. Hai con tim đổ dồn thình thịch. Hơi thở gấp gáp và hổn hển.
Thời gian và không gian câm lặng như chết.
Rồi họ cũng đến lúc hiểu rằng, ba mươi phút không phải là vô tận.
Mậu thủ thỉ kể cho Hón nghe, sau thời gian học ở trường văn hóa, cô được tuyển vào đoàn văn công Quân khu. Chính điệu hát ví quê Mường đã tạo cho Mậu chỗ đứng trong đoàn. Nhưng chiến tranh càng ác liệt, nhiệm vụ phục vụ các chiến sĩ đã đưa Mậu gắn bó với phòng chính trị Quân khu. Mậu đã đi khắp dẫy Trường Sơn từ A Sầu, A Lưới qua Khâm Đức, Trà My, Trà Bồng. Mậu đến những cánh rừng Ngọc Linh với bao nhiêu huyền thoại, rồi vượt sông Sê-rê-pôk đến các đơn vị chiến đấu, đến các thương binh ở các trạm phẫu tiền phương.
Hón cũng kể cho Mậu nghe chuyện của mình, về Phiến và Thuận. Anh kể cho Mậu nghe tin Thuận bị địch bắt nhưng không chịu chiêu hồi, không phản lại đồng đội. Rồi nỗi nhớ quê hương, nỗi nhớ bầm, nỗi nhớ Mậu. Họ bịn rịn buông tay nhau ra khi có tiếng đằng hắng của sư đoàn trưởng Nguyễn ở ngoài.
Mọi người bước vào lán. Hón kéo Mậu lại gần Bẩy giới thiệu:
- Đây là chị Bẩy Tiền, đại đội trưởng của anh.
- Chào chị Bẩy!
- Chào đồng chí Mậu!
- Nhờ chị giúp đỡ anh Hón hộ em!
Bẩy bắt tay Mậu, Mậu đáp lại. Bàn tay Bẩy như run rẩy bấu vào tay Mậu.
Sư đoàn trưởng chủ động:  .
- Đồng chí Hón phải cám ơn tớ đấy nhé! Không có nhiệm vụ của sư đoàn thì các cậu làm gì có dịp gặp nhau. Đúng không?
- Vâng ạ!
Tỉnh đội trưởng Sáu Ngạn tiếp lời:
- Thế thì cậu phải cố hoàn thành nhiệm vụ sư trưởng giao cho nghen! Bây giờ chia tay được chưa hè?
- Vâng, được rồi ạ!
Hón quay lại bảo Mậu:
- Em ở lại, anh đi!
- Anh đi nhớ giữ gìn sức khỏe nhé!
Mậu rưng rưng đáp lại.Hai người bịn rịn chia tay nhau.
Hón gằn bước đuổi theo Bẩy Tiền đang phăm phăm ở phía trước.
Đằng sau, xa, tiếng hát của người chiến sĩ văn công vút lên như lời chào tạm biệt họ, hẹn những mùa vui chiến thắng.
"Đăk-Krông ơi, Tây Nguyên ơi/ Cái suối đổ về sông, cái sông ra biển lớn/ Ta nối tấm lòng dân bằng tình yêu Cách mạng, đi suốt Truờng Sơn xanh, nghe dòng sông chảy mãi/ Đăk-Krông ơi, dòng sông xanh thắm".
 
*
Bẩy Tiền lầm lũi đi như chạy trên con đường mòn xuyên qua cánh rừng le đổ về hướng Hà Tam. Từ lúc bất ngờ gặp đoàn văn công tại lán của sư đoàn trưởng Nguyễn đến giờ, chứng kiến cảnh Hón gặp người yêu, Bẩy bàng hoàng người như lên cơn sốt. Sự choáng váng ập đến tựa cơn sóng lừng, tấp lên cái mong manh của Bẩy, khiến Bẩy hụt hơi, mặt tái đi, mồ hôi túa ra, mồm miệng đắng ngắt. Khi sư trưởng bảo ra ngoài dành căn lán cho Hón và Mậu, Bẩy ù hết cả tai, chẳng hiểu sư đoàn trưởng bảo gì. Đến lúc tỉnh đội trưởng Sáu Ngạn cầm tay kéo đi Bẩy mới tinh tỉnh, loạng choạng đứng lên, bước theo. Tỉnh đội trưởng phải hỏi:
- Đồng chí Bẩy làm sao thế ni. Sốt à?
- Dạ, em sốt!
- Gay nhỉ? Đang nước sôi lửa bỏng thế ni mà sốt thì nguy to hè!
Bẩy chẳng biết trả lời ra sao, đành nương theo ý thủ trưởng, ấp úng trả lời bừa, cốt cho xong chuyện:
- Không răng đâu ạ. Em đã mang thuốc phòng đây rồi. Chắc tí nữa sẽ đỡ thôi hà!
Bây giờ, Bẩy vẫn thấy nghẹn trong cổ.
Sự thật sao tàn ác thế! Hón không hề nói với Bẩy là Hón đã có người yêu và Bẩy cũng chưa bao giờ nghĩ rằng Hón có thể giành trọn trái tim mình cho kẻ khác.
Quả thực Mậu xinh như thế cơ mà, Hón nếu có yêu cũng là phải. Con mắt ấy đẹp đến vậy, sẵn sàng hút hồn mọi kẻ bất chợt đến gần chứ đừng nói đã kết giao bè bạn từ ngày nảo, ngày nào như họ. Mậu lại là văn công, tiếng hát bay bổng ngọt ngào chứ đâu có sóng gió và cát mặn như tiếng xứ Quảng của Bẩy.
Chưa bao giờ Bẩy lại đem mình đi so sánh với người khác để phải chịu thiệt đơn thiệt kép như thế này. Bẩy bỗng thấy tủi thân cho mình khi gặp Mậu.
Cơn mưa rừng bỗng đâu ập đến, nhanh như đường bay của con chim cắt. Tiếng lộp bộp đầu tiên còn ra chừng dọa nạt, sau mau dần, quất ràn rạt trện đầu Bẩy. Bẩy chạy nhanh tránh mưa. Trong ánh chớp nhì nhằng, Bẩy chợt thấy ven rẫy của đồng bào có chiếc chòi canh nương. Bẩy vụt đến, lao lên chiếc cầu thang lồ ô.
Bỗng nhiên Bẩy mới nhớ, mình không đi một mình, còn Hón nữa. Thôi chết, Hón đâu rồi nhỉ? Sao không thấy Hón? Bẩy thực sự lo lắng. Bẩy tự trách mình đã bỏ rơi Hón. Không biết bây giờ Hón đang ở đâu? Bẩy tự trấn an mình, dầu sao Hón còn có Mậu để mà thương nhớ. Còn Bẩy, Bẩy biết thương nhớ ai?
Nhưng không được. Bẩy vẫn yêu Hón lắm. Bẩy muốn quay lại lội mưa đi tìm nhưng lại tự ái, băn khoăn lòng tự hỏi liệu người ta có cần đến mình nữa không mà quay lại?
Tự nhiên Bẩy lo sợ, không có được Hón, Bẩy sống thế nào?
Trong căn chòi vắng ngắt, không gian nhờ nhờ như bảo rằng trời chưa tối hẳn. Cơn mưa rừng ào ạt là thủ phạm khiến thời gian như vật vã trôi nhanh, làm chặng đường về Hà Tam của Bẩy kéo dài ra và chập chờn trong hoang lạnh.
Bỗng một ánh chớp xanh lét tóe ra, soi sáng rõ cả bụi cây ngọn cỏ. Một tiếng sét ré lên, ùng ục lan dài như trời cũng chơi trốn tìm, đuổi nhau về phía núi. Bẩy thấy Hón đang lui cui ngoài con đường mòn, một mình cô đơn và lạnh lẽo.
Tim Bẩy bỗng dâng trào một niềm thương xót. Sao Bẩy lại nhẫn tâm với Hón thế nhỉ? Hón rời bỏ quê hương Miền Bắc vào đây đâu phải để tìm tình yêu với Bẩy. Cả Mậu nữa, bao nhiêu năm rồi họ mới bất chợt gặp nhau. Yêu nhau mà chưa kịp chăm sóc cho nhau đã phải xa nhau. Bây giờ Bẩy còn có Hón ở bên, còn Mậu vẫn một mình một bóng. Thế thì Mậu còn khổ hơn Bẩy, trách cứ họ là điều không phải đạo.
Chiến tranh quả là tàn khốc. Bao nhiêu người ngã xuống. Bao nhiêu tình yêu lỡ làng và dang dở. Những vành khăn tang tròn vo chít trên những mối tình tưởng chừng bách niên giai lão. Thật là oan nghiệt cho những chàng trai, cô gái đã ngã xuống. Nhưng mà biết làm thế nào. Cuộc chiến tranh của chúng ta là cuộc chiến tranh vệ quốc mà. Không mất mát hi sinh sao giành được thắng lợi.
Bẩy bỗng rùng mình, lạnh toát dọc đốt sống lưng. Ngày mai, biết đâu mình chẳng thế, mình sẽ chết mà chưa được một lần yêu!
Bẩy hốt hoảng, líu ríu gọi tên Hón như sợ Hón biến mất trên cõi đời này. Tiếng Bẩy chìm trong tiếng mưa ào ạt, dập vùi quất xuống nơi rừng hoang lối vắng. Hai tay Bẩy kéo Hón lên sàn. Hón chưa kịp đứng vững Bẩy đã lao lên ôm chầm lấy  Hón như sợ Hón lại lầm lũi bỏ đi. Người Hón ướt sũng. Tấm áo mưa không ngăn được những làn mưa quất như điên dại ngoài trời. Không biết làm thế nào Hón đành yên lặng, không ra đón nhận và cũng không ra từ chối.
Mặc!
Bẩy cứ ôm lấy Hón. Vòng tay Bẩy xiết chặt đến ngạt thở. Nước mưa từ quần áo Hón thấm sang quần áo Bẩy.
Bẩy thầm thì:
- Anh giận em ha? Cho em xin nhe!
Tiếng Hón cũng như người hụt hơi ngạt thở:
- Bẩy có làm gì đâu mà Hón giận!
- Em vừa ghen với chị Mậu đó, anh có biết không hè?
Hón bất chợt lặng đi vì sự thật thà của Bẩy. Tính cách người con gái xứ Quảng là vậy. Họ không biết giấu lòng mình, yêu là bảo rằng yêu không chờ con trai ướm lời ngỏ ý, cứ ào đến, không quanh co đôi hồi như con gái Bắc.
- Nhưng mà … lỗi đâu phải do Mậu?
Đến lượt Hón ấp úng.
- Em biết vậy nhưng em vẫn cứ ghen. Em xấu quá anh hỉ?
- Không! Tình yêu không bao giờ xấu cả. Tiếc rằng chúng ta gặp nhau quá muộn.
- Dạ. Em biết!
Nói thế, nhưng Bẩy vẫn ôm ghì lấy Hón, người Bẩy rung lên từng chặp như lên cơn sốt rét. Hón lần lần theo vòng ôm mãnh liệt định gỡ tay Bẩy ra nhưng không làm sao gỡ nổi. Bẩy hổn hển:
- Em xin anh! Anh hãy cho em được yêu anh! Ngộ nhỡ ngày mai …
Hón vội rụt tay lại, bịt miệng Bẩy:
- Em đừng nói gở!
- Thật mà. Em yêu Hón lắm lắm Hón ơi! Nhưng em không muốn cướp anh của chị Mậu đâu. Dù sao chị ấy cũng là người đến trước …
Bẩy không cưỡng được lòng mình, cô vít đầu Hón xuống hôn như điên như dại vào đôi môi của anh. Hón mất đà đổ người xuống sàn. Bẩy phủ phục lên anh, môi Bẩy vẫn tìm môi Hón. Bẩy nói vội vã như người lạc giọng:
- Em không mần răng chịu nổi nữa đâu. Mặc kệ anh đó!
Vừa nói Bẩy vừa giật phăng chiếc áo đang mặc, áp cặp vú căng cứng vào ngực Hón, đè xuống, sàng đi sàng lại, di di như kẻ mộng du vậy.
- Ấy chết, em đừng bắt anh phản bội Mậu!
Bẩy cương quyết:
- Phản bội chi mà phản bội. Anh đâu có phản bội chị ấy. Đây là em xin anh cơ mà. Chỉ một lần thôi anh. Từ mai trở đi em không đòi hỏi gì anh nữa!
- Ngộ nhỡ…
- Không ngộ nhỡ gì cả. Em chịu trách nhiệm về việc làm của mình. Em còn mười lăm, mười bẩy gì nữa đâu. Em cần anh yêu một lần, một lần rồi thôi để em có thêm sức đánh giặc, để nếu có ngã xuống em không có gì phải ân hận nữa. Anh hiểu cho em không?
Hón hết đường chùn. Người anh nóng hôi hổi. Hai người hoàn toàn không còn mảnh vải che thân. Những đợt sóng trào dâng như chẳng có gì cưỡng nổi. Những tiếng kêu rên miên man và những nhịp thở dồn dập. Căn chòi rung lên nhè nhẹ.
Ngoài kia, mưa rừng vẫn sầm sập. Nhưng bây giờ tiếng sầm sập ấy không còn lạnh lẽo và vô cảm nữa, nó đã trở nên ấm áp như cũng thấu hiểu tình người.
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Quảng cáo

Tranh nghệ thuật

Một góc Phú Thọ

Thông tin

cỏ nhân tạo sân bóng đá