Danh mục

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 29

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 28


Hôm nayHôm nay : 2608

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 91038

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3591976

Đăng ký nhận bản tin

NHẬP EMAIL ĐỂ NHẬN ĐƯỢC NHỮNG THÔNG BÁO MỚI NHẤT TỪ CỔNG THÔNG TIN ĐÀO TẠO

Tìm kiếm

Ảnh nghệ thuật

KẾ HOẠC TỔ CHỨC ĐẠI HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH PHÚ THỌ

TỈNH UỶ PHÚ THỌ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Việt Trì, ngày 30 tháng 8 năm 2010
Số : 1055 - TB/TU

THÔNG BÁO
KẾT LUẬN CỦA THƯỜNG TRỰC TỈNH UỶ
Về kế hoạch tổ chức Đại hội Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Thọ
lần thứ VII, nhiệm kỳ 2010 - 2015

Các thành viên Ban chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Phú Thọ khóa VI (nhiệm kỳ 2005 - 2010)

Ban chấp hành Hội Văn học nghệ thuật Phú Thọ khoá VI, nhiệm kỳ 2005 - 2010 gồm 13 thành viên:

32 năm hội văn học nghệ thuật phú thọ (1975 - 2007)

Phú Thọ - Đất Tổ, nơi có đền thờ các Vua Hùng dựng nước, có một kho tàng văn học dân gian vô cùng phong phú nhất là các truyền thuyết về thời đại Hùng Vương, cùng các trò diễn xướng từ xa xưa như trò: trám, đánh phết và các hội làng truyền thống, đặc biệt là dân ca hát xoan, hát ghẹo còn lưu truyền đến nay.

Cậu học trò nghèo học giỏi, mơ ước làm nhà thơ

Cậu học trò nghèo học giỏi, mơ ước làm nhà thơ

Nhà nghèo, học giỏi, thành tích 6 năm liền đạt danh hiệu sinh khá giỏi nhưng cậu học trò Lương Hữu Khoa, học sinh lớp 7A1, Trường PTDT Nội trú Vân Canh (huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định) lại có sở thích làm thơ và ước mơ trở thành nhà thơ nổi tiếng.

32 NĂM HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT PHÚ THỌ (1975 - 2007)

Phú Thọ - Đất Tổ, nơi có đền thờ các Vua Hùng dựng nước, có một kho tàng văn học dân gian vô cùng phong phú nhất là các truyền thuyết về thời đại Hùng Vương, cùng các trò diễn xướng từ xa xưa như trò: trám, đánh phết và các hội làng truyền thống, đặc biệt là dân ca hát xoan, hát ghẹo còn lưu truyền đến nay.
Trước năm 1945 từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, cổ vũ cho phong trào Xô - Viết Ngệ Tĩnh và Mặt trận Bình dân chống đế quốc, phong kiến, hoạt động quần chúng tham gia Mặt trận Việt Minh chống thực dân Pháp, phát - xít Nhật và hào hứng chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa dành chính quyền về tay nhân dân.
Trong cuộc kháng chiến chống pháp (1945-1954) hoạt động văn nghệ ở Phú Thọ chủ yếu là phong trào quần chúng hát các bài hát cách mạng, kháng chiến, thơ ca, hò vè, làm lời mới cho các làn điệu dân ca để tuyên truyền cổ cũ cho quần chúng trong lao động sản xuất và chiến đấu. Phong trào múa hát phát triển rầm rộ, đâu đâu cũng có múa hát các em thiếu niên, thanh niên, các đội văn nghệ xóm xã, trường học. Người có công xây dựng các phong trào này là các anh bộ đội. Bộ đội đóng quân ở đâu đều dạy múa hát cho thiếu nhi, thanh niên làm cho xóm làng vui vẻ tình quân dân đằm thắm, quân với dân “như cá với nước”. Thật đúng là “các anh về mái ấm nhà vui, tiếng hát câu hò rộn ràng trong xóm nhỏ” (Hoàng Trung Thông). Ngay những năm đầu của cuộc kháng chiến, Ty Thông tin đã thành lập (1948) do đồng chí Trần Ngọc Liu làm Trưởng ty. Một số văn nghệ sỹ hoạt động trong Ty như: Vũ Lân, Trần Vượng, Bùi Công Kỳ, Đinh Thường (Nguyễn Văn Bằng), Chu Mạnh Tường, Nguyễn Kính, Quốc Hùng, (Nguyễn Ngọc Loan)…Và cùng năm 1948 thành lập đội thiếu niên nghệ thuật do đồng chí Bùi Công Kỳ, Lê Tiến Huy phụ trách. Tiết mục của đội gồm ca múa, độc tấu, kịch ngắn, đặc biệt có các tiết mục hay của đội: Múa mỡn, múa chim gâu, múa xúc tép, màn “Ca cảnh tiễn đưa” bằng dân ca hát xoan, hát ghẹo. Đội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng III. Cuối năm 1954 cả đội được lấy tên làm nòng cốt thành lập đoàn Văn công khu Việt Bắc.
Phú Thọ là vùng tự do, còn được gọi là cái nôi của văn nghệ kháng chiến thời chống Pháp. Đoàn văn hoá kháng chiến gồm nhiều văn nghệ sỹ nổi tiếng ở Hà Nội đi tham gia kháng chiến do hoạ sỹ Tô Ngọc Vân đóng trụ sở tại xã Xuân Áng (Hạ Hoà, 1947). Trụ sở Hội Văn nghệ Việt Nam đầu tiên và tờ tạp chí Văn nghệ (tiền thân của tuần báo Văn nghệ ngày nay) đóng tại thôn Gia Điền (Hạ Hoà, 1947) Đại hội lần thứ nhất thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam (Tiền thân của Liên hiệp các Hội văn học, nghệ thuật Việt Nam) tổ chức vào các ngày 23,24 và 25 tháng 7 năm 1948 tại thôn Dộc Phát, xã Yên Kỳ (Hạ Hoà). Hơn 80 năm nghệ sỹ mọi miền đất nước về dự Đại hội. Nhiều văn nghệ sỹ nổi tiếng về làm việc trong địa bàn tỉnh như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Ngô Tất Tố, Xuân Diệu, Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước, Văn Cao, Đỗ Nhuận, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Thế Lữ, Song Kim, Lưu Quang Thuận…và cũng trên mảnh đất này nhiêu tác phẩm nổi tiếng ra đời: “Bà Bủ”, “Bầm ơi” (Tố Hữu). “Trường ca Sông Lô” (Văn Cao), “Du kích Sông Thao” (Đỗ Nhuận), “Ba Đình nắng” (Bùi Công Kỳ)…
Thời kỳ chống Mỹ, cứu nước (1955-1975) đội ngũ văn nghệ sỹ Phú Thọ đã có trưởng thành đáng kể, văn học có: Sao Mai, Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Khắc Xương, Nguyễn Hữu Nhàn, Nguyễn Uyển, Hà Chí Tịch, Nguyễn Đình ảnh, Nguyễn Hà, Kim Dũng, Văn Chinh, Trần Quang Quý, Trần Khoát, Tất ứng…về âm nhạc: Trương Quang Lục, Cao Khắc Thuỳ, Trịnh Hùng Khanh, Hà Hoàn. Mỹ thuật có: Nguyễn Đệ, Vương Chuỳ, Nguyễn Thọ, Đặng Thị Khuê, Hoàng Hữu, Kịch có: Nguyễn Kính, Trần Thành, đặc biệt phải kể đến nhà thơ Bút Tre (Đặng Văn Đăng), ông đã cho xuất bản 3 tập thơ “Rừng cọ đồi chè”, “Phú Thọ lớn lên”, “Sông Lô, Sông Chảy”. Ông tiếp thu dòng thơ dân gian, có giọng điệu lạ được nhiều người chú ý. Đọc thơ ông, nhiều câu gây cười sảng khoáI, gần gũi với quần chúng về sau có hàng trăm, hàng nghìn bài thơ của nhiều người viết theo giọng điệu của ông đều gọi la “Thơ hậu Bút Tre”.
Thời kỳ này, nhiều văn nghệ sỹ quê Phú Thọ hăng hái lên đường nhập ngũ, tham gia chiến đấu và sáng tác trên khắp các mặt trận: Nhà thơ Phạm Tiến Duật đi với đoàn vận tải quân sự 559 dọc theo tuyến đường Trường Sơn, nhà thơ Nguyễn Đình ảnh ở quân chủng Phòng không, nhà thơ Trần Nhương đi với binh chủng Thông tin, Trịnh Hoài Đức đi với binh chủng Công Binh…
Nhiều nhà thơ Phú Thọ đã được giải thưởng cao trong các cuộc thi sáng tác của một số báo và tạp chí có uy tín lớn ở trung ương như:
- Nhà văn Ngô Ngọc Bội: giải nhất cuộc thi truyện ngắn 1958-1959 của báo Văn nghệ với tác phẩm “Bộ quần áo mới”.
- Nhà thơ Phạm Tiến Duật: giải nhất cuộc thi thơ 1969-1970 của báo Văn nghệ với các tác phẩm “Lửa đèn”,”Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. “Gửi em - cô em thanh niên xung phong”, “Nhớ”…
- Nhà thơ Nguyễn Đình ảnh: đã nhận được giải thưởng cuộc thi viết về thầy giáo và nhà trường do báo Người giáo viên nhân dân tổ chức (1960-1961) với bài thơ “Thăm trường”…
- Nhạc sỹ Trương Quang Lục: “Cô gái Lâm Thao” giải A Hội Nhạc sĩ Việt Nam.
- Nhạc sĩ Cao Khắc Thuỳ và Nguyễn Kính có ca cảnh: “Chảy hội mùa xuân” (1962), “Dưới bóng cây thiên tuế” (1975), đều dành huy chương vàng Hội diễn toàn quốc.
Năm 1968 sáp nhập hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú. Lực lượng văn nghệ có thêm tỉnh Vĩnh Phúc với các văn nghệ sĩ: Trần Quốc Phi, Nguyễn Bùi Vợi, Hữu Thỉnh, Hoàng Hữu, Vũ Đình Minh, Nguyễn Cảnh Tuấn, Bùi Đăng Sinh, Phạm Khương, Triệu Huyền Ngọc, Hoàng Tá… Phong trào văn học nghệ thuật Vĩnh Phú thời kỳ này phát tiển mạnh. Tháng 11/1973, tỉnh Vĩnh Phú đã quyết định thành lập Ban vận động thành lập Hội văn học nghệ thuật Vĩnh Phú gồm 21 thành viên, do đồng chí Trần Quốc Phi uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh làm trưởng ban; đồng chí Trần Gia Bằng, giám đốc và các đồng chí Nguyễn Chí Vượng, phó giám đốc Ty Văn hoá làm phó ban. Các uỷ viên thường trực của Ban vận động lúc đầu có 3 thành viên: nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi từ Ty Giáo dục chuyển sang, nhạc sỹ Cao Khắc Thuỳ từ đoàn văn công chuyển về, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn từ phòng văn hoá Việt Trì chuyển lên; về sau được bổ xung thêm các đồng chí: Trần Khoát, họa sĩ Hoàng Hữu, Nguyễn Hồi và Nguyễn Đài về công tác ở Ban vận động. Bộ phận thường trực phân công nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi biên tập sách, tạp chí và dự thảo các văn kiên Đại hội; nhạc sỹ Cao Khắc Thuỳ chuẩn bị kế hoạch tổ chức tiến hành Đại hội đại biểu…
Đại hội I: Sau 2 năm nỗ lực chuẩn bị. Đại hội thành lập Hội văn học nghệ thuật Vĩnh Phú đã được tiến hành trong các ngày 3 và 4/3/1975 tại hội trường Ngoại vụ của tỉnh, với sự có mặt của 121 hội viên. Trong dịp diễn ra Đại hội, hội Vĩnh Phú đã đón hàng trăm đại biểu, các nghệ sĩ nổi tiếng trung ương và các vùng, miền, các tỉnh thành phố trong cả nước về dự, đặc biệt các nghệ sĩ Sài Gòn, Thừa Thiên Huế trong Ban văn nghệ miền Nam tập kết ra Bắc như: Bảo Định Giang, Trương Quốc Khánh, Lê Duy Hạnh, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tô Nhuận Vỹ, Trần Công Tuấn, Võ Quê đã đến chia vui và chúc mừng sự ra đời của Hội.
Ban chấp hành gồm 15 thành viên, Ban thường vụ gồm 5 thành viên:
- Trần Quốc Phi Chủ tịch
- Nguyễn Chí Vượng Phó Chủ tịch
- Cao Khác Thuỳ Uỷ viên thư ký
- Nguyễn Hữu Nhàn Uỷ viên B.T.V
- Ngô Quang Nam Uỷ viên B.T.V
- Nguyễn Cảnh Tuấn Uỷ viên
- Vũ Đình Minh Uỷ viên
- Khánh Nguyên Uỷ viên
- Nguyễn Uyển Uỷ viên
- Trương Quang Lục Uỷ viên
- Phạm Khương Uỷ viên
- Hà Chí Tịch Uỷ viên
- Phan Đinh Uỷ viên
- Băng Tâm Uỷ viên
- Đặng Thị Khuê Uỷ viên
Đến giữa nhiệm kỳ, đồng chí Cao Khắc Thuỳ đi công tác xa, đồng chí Hà Chí Tịch được bầu làm Uỷ viên thư ký.
Là thời kỳ đất nước hoàn toàn độc lập, các nghệ sĩ Phú Thọ tự hào về thành quả cách mạng của dân tộc, hăng say lao động sáng tạo nghệ thuật.
Nhiệm kỳ I đã đạt được những kết quả tiêu biểu như:
- Nhiều tác phẩm bìa sách của hoạ sĩ Hoàng Hữu đã được trưng bày tại các cuộc triển lãm Quốc tế.
- Nhiều tác phẩm của hoạ sĩ Ngô Quang Nam được trưng bày tại triển lãm toàn quốc
- Nhiều tác phẩm được công bố như : “Sông rừng” (tiểu thuyết) của nhà văn Sao Mai; “Làng Gành” và “Dốc nắng”(tiểu thuyết) của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn; tập thơ “Quê xanh” của Bùi Vợi, “Truyền thuyết Hùng Vương”, “Thơ ca dân gian Phú Thọ” của Nguyễn Khắc Xương; “Hát xoan, hát Ghẹo”, “Truyện dân gian Đất Tổ” và “Truyện cười Văn Lang” (sưu tầm nghiên cứu) của Dương Huy Thiện, “Trăng rừng”, “Hoa cỏ miền đồi” (tập thơ) của Nguyễn Đình ảnh; “Mùa lúa mùa trăng” (thơ) Kim Dũng; “Thềm phù xa” (thơ) Trần Dư; “Mùa hoa trẩu” (thơ) Phạm Đăng Chẩm; “Khói ấm sau cây”, “Màu cây miền châu thổ” (thơ) Hoàng Hữu; “Ngọn giáo, búp đa” (thơ) Ngô Văn Phú, Nguyễn Đình ảnh; “Gió đồng” (thơ) Vũ Đình Minh; “Trận trung kết” (Truyện) của nhà văn Khánh Hoài (giải B cuộc thi của Bộ Giáo dục); “Gạch ra lò” (chèo); “Con tôi à” (chèo) và “Nắn khung” của nhà viết kịch Trịnh Hoài Đức (đã được nhận huy chương vàng trong các cuộc Hội diễn toàn quốc; “Sức sống” (truyện thơ) và “Phong tục lễ nghi thường thức” của nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Dương Văn Thâm.
- Hoạ sĩ Vương Chuỳ, Nguyễn Thọ với tác phẩm “Đền Hùng” (tranh sơn khắc) Huy chương bạc triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1980.
- Các tập nhạc “ Bài hát chọn lọc” của Trương Quang Lục, tập bài hát “Tiếng hát sông Thao” của Cao Khắc Thuỳ, tập nhạc của Phạm Khương, của Triệu Huyền Ngọc…được xuất bản
Đại hội II: Được tiến hành trong các ngày 11 và 12/10/1983 tại Hội trường Ngoại vụ tỉnh với sự có mặt của 135 hội viên.
Ban chấp hành gồm 16 thành viên. Ban thường vụ gồm 5 thành viên:
- Ngô Quang Nam Chủ tịch
- Cao Khác Thuỳ Tổng Thư ký
- Xuân Mai Phó Tổng thư ký
- Nguyễn Đình ảnh Uỷ viên thư ký
- Nguyễn Việt Thọ Uỷ viên thư ký
- Trần Cư Uỷ viên
- Nguyễn Uyển Uỷ viên
- Cao Tiến Đức Uỷ viên
- Trần Thành Uỷ viên
- Phan Đinh Uỷ viên
- Nguyễn Cảnh Tuấn Uỷ viên
- Lê Thị Mai Uỷ viên
- Nguyễn Xuân Hải Uỷ viên
- Triệu Huyền Ngọc Uỷ viên
- Nguyễn Khắc Xương Uỷ viên
- Trần Huynh Uỷ viên
- Tác phẩm nổi tiếng “ Hai nửa vầng trăng” của hoạ sĩ - nhà thơ Hoàng Hữu đã được tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam trao tặng giải nhì trong cuộc thi thơ 1981-1982.
- Tác phẩm áp phích chính trị "Hoà bình - sự sống" của hoạ sĩ Đỗ Ngọc Dũng đã được trưng bày tại triển lãm quốc tế Liên Xô và Tiệp Khắc, 1984.
- Nhiều tập sách được xuất bản, nhiều bức tranh, tấm ảnh được công bố và nhận các giải thưởng như: "Những chuyện bất ngờ" của nhà văn Khánh Hoài, được Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trao huy chương "Vì thế hệ trẻ"; "Đi tìm mùa hoa Vĩnh Cửu" (truyện và ký) của tác giả Vương Hồng; "Giàn giáo - mùa cày" tập truyện của hai tác giả Nguyễn Uyển và Hà Chí Tịch; "Chim báo sáng" (tập kịch) "Mùa xuân trung du" (kịch dài) của nhà viết kịch Trịnh Hoài Đức; "Truyền thuyết Hùng Vương" của nhà nghiên cứu phê bình Nguyễn Khắc Xương; "Truyện cổ Mường Châu Phong" của Hoàng Quý; "Hoa cỏ miền đôì" (tập thơ) của nhà văn Nguyễn Đình ảnh; "Hai Bà Trưng" tranh sơn khắc, "Chơi đu", "Quan họ" sơn dầu của Vương Chuỳ; "Thánh Gióng" sơn khắc của Nguyễn Thọ; "Cọ mùa thu" (ảnh) và "Làm cọ xuất khẩu" (ảnh) của nghệ sĩ Phan Đinh; hai tác phẩm ảnh nghệ thuật của nghệ sĩ Vân Trang được trưng bày tại Triển lãm toàn quốc tại Thành phố Hồ Chí Minh; "Vùng cao" (tranh sơn khắc) và "Cọ trung du" của hoạ sĩ Hoàng Gia Vinh; "Giai thoại văn hoá Đất Tổ" và "Làng cười Văn Lang" (băng hình) của nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Dương Huy Thiện...
Từ năm 1985, UBND tỉnh Vĩnh Phú đã quyết định trao tặng giải thưởng Hùng Vương về văn học nghệ thuật, phần thưởng cao quý nhất của tỉnh dành cho giới văn nghệ sĩ của tỉnh (5 năm 1 lần) lần thứ nhất có tác phẩm xuất sắc về văn học nghệ thuật như: Bộ đồ hoạ bìa sách của hoạ sĩ Hoàng Hữu, các công trình nghiên cứu về truyền thuyết Hùng Vương của Nguyễn Khắc Xương, phòng tranh về đề tài chiến tranh của hoạ sĩ ngô Quang Nam, tranh sơn khắc "Giỗ Tổ Hùng Vương" của Vương Chuỳ, Nguyễn Thọ được nhận giải thưởng Hùng Vương 1985 và nhiều tác giả khác được nhận giải thưởng 10 năm.
Đại hội III: được tiến hành trong các ngày 17 và 18/3/1989 tại khách sạn Hoà Bình với sự có mặt của 150 hội viên.
Ban chấp hành gồm 7 thành viên. Ban thường vụ gồm 3 thành viên:
- Ngô Quang Nam Chủ tịch
- Sao Mai Phó chủ tịch
- Trinh Hoài Đức Uỷ viên thường trực
- Khánh Hoài Uỷ viên
- Trần Dư Uỷ viên
- Đỗ Thị Bích Thuỷ Uỷ viên
- Triệu Huyền Ngọc Uỷ viên
Đến giữa nhiêm kỳ, đồng chí Ngô Quang Nam được chuyển về công tác tại Bộ Văn Hoá - Thông tin. Đồng chí Triệu Huyền Ngọc được Ban chấp hành bầu giữ chức Chủ tịch Hội.
Từ năm 1986 đến năm 1990 một số tác phẩm tiêu biểu như:
- Tác phẩm "Xí nghiệp làng chè" của nhà văn Văn Chinh (Phú Thọ) đã được tặng về loại bút ký trong khi cuộc thi viết về nông thôn 1989 do tuần báo Văn nghệ phối hợp với báo Nông nghiệp và Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam tổ chức.
- "Tiếng gọi rừng xa" (tiểu thuyết) của Sao Mai; "Miền đời quên lãng" (tiểu thuyết) của Nguyễn Thiện Kế, "Ban mai chóng mặt", "ĐêmThị Màu" (tập thơ) của Nguyễn Hưng Hải, "Làng Cói Hạ" của Nguyễn Hữu Nhàn, "Cuộc chia tay của những con búp bê" (truyện) của Khánh Hoài. "Nữ tướng Trưng Vương" (nghiên cứu) của Nguyễn Khắc Xương, "Dòng máu" (tiểu thuyết) của Ngô Quang Nam, "Trước cổng trời" (tập thơ) của Nguyễn Đình ảnh, "Ngày thứ ba mốt" (tập truyện) của Lã Thế Khanh, "Hạt sáng" (thơ) của Huy Mai, "Hoa học thầm" (thơ) của Giang Châu.
Cuối năm 1990 xét giải thưởng VHNT Hùng Vương lần thứ II (1985-1990) tập thơ "Ban mai chóng mặt" của Nguyễn Hưng Hải được giải thưởng Hùng Vương và nhiều tác phẩm khác được giải thưởng 5 năm.
Giai đoạn từ 1991 đến 1995 có những thành tựu đáng kể như:
- Tác phẩm "Chuyện ở lớp, chuyện ở nhà" ("Băng ngũ hổ") của nhà văn Khánh Hoài đã được giải nhất cuộc thi của Hội Nhà văn Việt Nam, Uỷ ban bảo vệ chăm sóc trẻ em Việt Nam và UNICEP; "Trang cuối một tình yêu", "Đầm hoang" (Tiểu thuyết) của nhà văn Nguyễn Lê; "Một buổi đi săn"(Tập truyện) của Xuân Mai; "Buồm mở cánh", "Khát vọng" (Tập thơ) của Kim Dũng; "Đêm Thị Màu" (Tập thơ) của Nguyễn Hưng Hải; "Cái sân chơi biết đi" (Tập thơ) của Hoàng Tá; "Vòng luân hồi xanh" (Tập thơ) của Ngô Kim Đỉnh; "Hành trình thơ" (Tập thơ) của Trần Dư.
- "Đấu vật", "Quê hương" của hoạ sỹ Đỗ Dũng là hai tác phẩm sơn dầu triển lãm mỹ thuật toàn quốc.
- "Bộ tranh khắc" của hoạ sĩ Đỗ Ngọc Dũng đã được trưng bày tại triển lãm quốc tế và nghệ sĩ trẻ tại Phần Lan, 1994.
Các tác phẩm "Thời gian", "Nắng trung du" tranh bột màu của Quang Thái; "Làm đường" tranh sơn dầu của Nguyễn Lưu; "Thánh Gióng" phù điêu của Lê Duy Ngoạn được trưng bày tại triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1995.
- "Mặt trời trung du" ảnh của Võ Huy Cát, "Duyên quê" của Hoàng Tác được giải ảnh xuất sắc năm của Hội Nghệ sỹ Nhiếp ảnh Việt Nam.
- "Trận địa biên giới" của Anh Bào; "Triển lãm ảnh cá nhân" của Phan Đinh; "Lăng Hùng Vương", "Hát dân ca ngày hội", "Dấu thời gian" của Vân Trang đã góp phần quan trọng làm nên diện mạo của Nhiếp ảnh Phú Thọ thời kỳ này.
Các tác phẩm sân khấu có: "Nắn khung", "Quý tử", "Lũ xoáy chân đồi" kịch của Trịnh Hoài Đức; "Cấy lại" của Nguyễn Kính; "Người đi tìm ngọc" của Văn Lợi; "Bức tường phải phá" của Trần Thành; "Mối tình gặp lại" của Văn Chê; "Tạ tội" của Phạm Đăng Ninh.
Về âm nhạc có:
- "Tìm hiểu về hát xoan", "Tìm về lời ru" của Đào Đăng Hoàn, "Trăng ơi nhớ về quê em" của Hà Hoàn, "Về với hát ghẹo", "Đón em về Đất Tổ" của Trịnh Hùng Khanh, "Chú gà chú vịt", "Màu xanh lâm trường" của Triệu Huyền Ngọc...
Cuối năm 1995 tổ chức lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Hội và trao giải thưởng VHNT Hùng Vương lần thứ 3 (1990-1995) các tác phẩm: "Băng ngũ hổ" tập truyện của nhà văn Khánh Hoài, "Cái sân chơi biết đi" thơ của Hoàng Tá, "Quê hương" tranh sơn dầu của Đỗ Dũng, "Duyên quê" ảnh của Hoàng Tác, "Mặt tròi trung du" ảnh của Võ Huy Cát đã đạt giải thưởng Hùng Vương lần này. Bên cạnh đó còn nhiều tác phẩm nhận được giải thưởng VHNT 5 năm.
Đại hội IV: được tiến hành trong các ngày 18 và 19/1/1995 tại khách sạn Sông Lô với sự có mặt của 160 hội viên.
Ban chấp hành gồm 11 thành viên. Ban thường vụ gồm 3 thành viên:
- Triệu Huyền Ngọc Chủ tịch
- Trịnh Hoài Đức Phó chủ tịch
- Đỗ Ngọc Dũng Uỷ viên thương vụ
- Nguyễn Đình ảnh Uỷ viên
- Nguyễn Hưng Hải Uỷ viên
- Xuân Mai Uỷ viên
- Lã Thế Khanh Uỷ viên
- Khánh Hoài Uỷ viên
- Nguyễn Kim Hồng Uỷ viên
- Đinh Thị Xuân Hương Uỷ viên
Tháng 1/1997, do tách tỉnh, các đồng chí Triệu Huyền Ngọc, Xuân Mai, Lã Thế Khanh, Nguyễn Kim Hồng được chuyển về Vĩnh Phúc. Ban chấp hành Hội đã bầu 3 đồng chí sau đây vào Ban thường vụ của Hội văn học nghệ thuật tỉnh Phú Thọ:
- Nguyễn Đình ảnh Chủ tịch
- Đỗ Ngọc Dũng Phó Chủ tịch
- Trịnh Hoài Đức Uỷ viên thường vụ
Những thành tựu đáng kể của thời kỳ này là:
- Nhiều tác phẩm văn, thơ, âm nhạc, mỹ thật, nhiếp ảnh, sân khấu của các văn nghệ sỹ Phú Thọ đã được xuất bản, công bố như nhạc sĩ Đào Đăng Hoàn với tập ca khúc “Yêu lắm đất quê mình” đã nhận giải thưởng của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp của Hội văn học nghệ thuật Việt Nam; hoạ sĩ Đỗ Ngọc Dũng có “Nốt nhạc đồng quê”, “Đốm trắng trên đồng” giải thưởng của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam và Hội Mỹ thuật Việt Nam “Những người như chân lý sinh ra” Viện bảo tàng Quân đội lưu giữ; Hoàng Gia Vinh với các tác phẩm sơn khắc “Vùng cao”, “Đất nguồn” cỡ lớn được nhận giải khu vực Hội Mỹ thuật Việt Nam; hoạ sĩ Nguyễn Lương với “Tập làm bộ đội” (tượng gỗ); hoạ sĩ Nguyễn Lợi “Nắng trung du” đã được nhận giải thưởng của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam và Hội Mỹ thuật Việt Nam; “Miền đất lạ” và “Người Đất Tổ” của tác giả Vương Hồng; “Phố làng” tập truyện, “Chớm nắng” tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn; “Trăng thu”, “Nâng bầu huyền thoại” và “Sải cánh M¬¬’Ling của tác giả Điền Ngọc Phách; “Trăng trên phố” tập thơ của Kim Dũng; “Mảnh hồn chin lạc” của Nguyễn Hưng Hải... “Văn hoá Việt - Mường trong mối liên hệ truyền thống” và “Tản Đà trong lòng thời đại” của nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương; “Vầng sáng và những kỳ tích” của nhà thơ Nguyễn Đình ảnh; tập truyện “Mắt chim le”, “ Sáng tối mặt người”, “Lá về mây” của nhà văn Sao Mai, tập thơ “Trước gương” của tác giả Nông Thị Ngọc Hoà; “Mùa phai” thơ của Ngô Kim Đỉnh; “Trước cửa thiền” thơ của Nguyễn Hưng Hải; “Tiếng hát Lê Xoay” tập kịch của Văn Lợi đạt giải thưởng của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam; “Mạnh hơn ma quỷ” của nhà văn Khánh Hoài (Giải nhất cuộc thi kịch bản phim của Đài truyền hình Việt Nam), “Âm vang ngàn xưa” của hoạ sĩ Huy Tuyển, “Đình Hương Canh” của tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn, “Giữa hai mẻ lưới” và “Tiếng vọng mấy nghìn năm” của nghệ sĩ nhiếp ảnh Thanh Thuỷ...
Cùng với các tác giả đội nghũ nghệ sĩ biểu diễn cũng có nhiều thành tích đáng kể ở thời kỳ này:
- Hoàng Tự Dung “Vai Thầy giáo Khiết”, Xuân Hương “Vai Nhung” (Trong vở “Đợi đến mùa xuân”) Huy chương vàng Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc 1995; Ánh Tuyết Huy chương vàng Hội diễn sân khấu chèo toàn quốc 1995 và 1997; Duy Phượng, Việt Hà, Quang Huy, Huy chương vàng Hội diễn sân khấu ca múa nhạc chuyên nghiệp trung du miền núi 1997 và một số diễn viên tiêu biểu; Minh Luân, Quốc Giới, Hoàng San...đạt nhiều Huy chương bạc tại các kỳ Hội diễn.
- Tháng 9/2000 Hội đã tổ chức thành công lễ kỷ niệm 25 năm thành lập Hội, trao giải thưởng Văn học Hùng Vương lần thứ IV 1995-2000 và đón nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ nhiều phần thưởng cao quý khác của tỉnh và các Hội Trung Ương. Các tác phẩm “Lá về mây” tiểu thuyết của Sao Mai, “Sắc cầu vồng” tập thơ của Nguyễn Đình ảnh, “Yêu lắm đất quê mình” tập nhạc của Đào Đăng Hoàn, “Tản Đà trong lòng thời đại” công trình nghiên cứu của Nguyễn Khắc Xương đã được nhận giải thưởng VHNT Hùng Vương 1995-2000 và nhiều tác phẩm khác được tặng giải thưởng 5 năm.
Đại hội V: được tiến hành trong các ngày 23 và 24/10 tại hội trường lớn Trung tâm hội nghị tỉnh, với sự có mặt của 86/92 hội viên.
Ban chấp hành gồm 9 thành viên. Ban thường vụ gồm 3 thành viên:
- Đỗ Ngọc Dũng Chủ tịch
- Trịnh Hoài Đức Phó chủ tịch
- Đào Đăng Hoàn Uỷ viên thường vụ
- Nguyễn Hữu Nhàn Uỷ viên
- Kim Dũng Uỷ viên
- Nông Thị Ngọc Hoà Uỷ viên
- Nguyễn Anh Tuấn Uỷ viên
- Nguyễn Hưng Hải Uỷ viên
- Nguyễn Thị Tuyết Cinh Uỷ viên
Các thành tích tiêu biểu:
Đây là thời kỳ Hội VHNT Phú Thọ nhận được sự quan tâm của Tỉnh Uỷ, UBND tỉnh của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Bộ Văn hoá-TT, các Hội chuyên nghành Trung Ương, sự phối hợp có hiệu quả của các sở ban ngành trong tỉnh, đặc biệt là Sở Văn hoá-TT và một số doanh nghiệp Trung Ương trên địa bàn tỉnh. Điều kiện làm việc của Hội như trụ sở, ô tô, cơ sở vật chất của văn phòng hội được nâng cấp trang bị mới khang trang, sạch đẹp, kinh phí hoạt động được nâng cấp hàng năm. Quỹ sáng tác đã được tái lập và bổ xung kinh phí 300 triệu đồng. Thường trực và Ban chấp hành Hội còn mở rộng giao lưu trao đổi học hỏi kinh nghiệm với các hội bạn. Hàng năm tổ chức được nhiều trại sáng tác cho tất cả các chuên ngành, tổ chức nhiều hoạt động văn hoá nghệ thuật sôi nổi như triển lãm, biểu diễn, hội thảo, toạ đàm và phối hợp với các ngành hữu quan mở các lớp bồi dưỡng năng khiếu, sáng tác hàng năm. Bình quân mỗi năm xuất bản từ 30-30 đầu sách văn học nghệ thuật của các hội viên, không ngừng mở rộng diện phát hành của tạp chí “Văn Nghệ Đất Tổ” hàng tháng từ 1500-2000 bản trên kỳ. Tạp chí được đánh giá là một trong những tạp chí tốt của Hội văn nghệ địa phương, đã nhiều lần đoạt giải thưởng và bằng khen của Bộ Văn hoá-Thông tin, Hội Nhà báo Việt Nam tại các kỳ tham dự báo xuân toàn quốc. Tập thể Hội được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba. Chính vì vậy mà uy tín và vị trí của Hội ngày càng được nâng cao.
Một số tác phẩm tiêu biểu trong thời kỳ từ 2001-2005: “Lò lửa mùa xuân” tập truyện, “Sáng tối mặt người” tiểu thuyết của Sao Mai; “Chớm nắng” tiểu thuyết, “Phố làng” tập truyện, “Sóng đỏ”, “Làng cao” kịch bản phim của Nguyễn Hữu Nhàn; “ẩm ương lấy chồng” tập chuyện, “Đường làng khuất khúc” tiểu thuyết của Ngô Ngọc Bội, “Người cha ở trên trời” tiểu thuyết, “Khuôn mặt đẹp” tập truyện của Nguyễn Tham Thiện Kế; “Câu chuyện bên hồ”, “Bóng thời gian” tiểu thuyết của Nguyễn Anh Đào; “Phố quan” tập truyện của Nguyễn Văn Lạc; “Đất thiêng” thơ của Ngô Kim Đỉnh; “Những vì sao mê sảng”, “Chiều không nhạt nắng” thơ của Nguyễn Hưng Hải; “Lời của lá” thơ của Nông Thị Ngọc Hoà - Giải thưởng Hội Nhà văn năm 2002; “Thức với dòng sông”, “Lòng tay hình châu thổ” thơ của Kim Dũng; “Vầng sáng và những kỳ tích” thơ của Nguyễn Đình ảnh, “Giọt mưa xanh” thơ của Vương Hồng; “Tự ru” thơ của Vũ Thanh Thuỷ; “Sau nẻo mù sa”, “Bao thu gom lại” thơ của Điền Ngọc Phách; “Mưa trên lá cọ” của Phương Quý; “Giấy trắng tình quê”, “Thiếp hồng” kịch của Trịnh Hoài Đức được giải của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam; “Mạch sủi”, “Sông lô thì thầm” tập truyện của Xuân Thu; “Ngày ấy bên sông” tiểu thuyết, “Ngày trở về” của Hùng Sơn; “Nơi đầu nguồn con suối” tập truyện của Bùi Thắng; “Hoa trái mùa”, “Khoảng sáng tối” tập truyện của Dương Phan Châu Hà; “Tản Đà toàn tập” công trình nghiên cứu gần 300 trang in của Nguyễn Khắc Xương; “Một dáng chiều”, “Quy luật nghiệt ngã” tranh sơn dầu của hoạ sĩ Đỗ Ngọc Dũng giải thưởng của Hội Mỹ thuật Việt Nam; “Chồng nụ, chồng hoa”, “Giữa hai mẻ lưới” ảnh của Thanh Thuỷ đạt giải của Hội Nghệ sỹ Nhiếp ảnh Việt Nam; “Tập làm bộ đội” tượng gỗ của hoạ sĩ Nguyễn Lương được giải thưởng của Tổng cục Chính trị và Bộ Văn hoá TT; Nhạc sỹ Đào Đăng Hoàn đạt giải của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam; hoạ sĩ Nguyễn Lợi được giải thưởng của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam; Nhà văn Khánh Hoài được giải thưởng kịch của Đài truyền hình Việt Nam và nhiều tác phẩm ảnh nghệ thuật như “Đôi bạn” của Thanh Thuỷ; “Ven sông”, “Chiều tà”, “Ánh mắt”... của Võ Huy Minh được triển lãm ở nước ngoài. Nhiều tác phẩm của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn, Nguyễn Lê, Nguyễn Tham Thiện Kế, Nguyễn Anh Đào, Khánh Hoài được dựng thành phim truyện và phim truyền hình.
Đại hội lần thứ VI (nhiệm kỳ 2005-2010), được tổ chức trong 2 ngày (02 và 03 tháng 11 năm 2005), tại hội trường lớn Trung tâm Hội nghị tỉnh, với sự có mặt của 122/156 hội viên.
Ban chấp hành được bầu gồm 13 đồng chí:
- Đỗ Ngọc Dũng Chủ tịch
- Đỗ Xuân Thu Phó Chủ tịch
- Dương Phan Châu Hà Uỷ viên
- Nguyễn Hưng Hải Uỷ viên
- Nông Thị Ngọc Hoà Uỷ viên
- Đào Đăng Hoàn Uỷ viên
- Đinh Thị Xuân Hương Uỷ viên
- Nguyễn Hữu Nhàn Uỷ viên
- Nguyễn Anh Tuấn Uỷ viên
- Kim Dũng Uỷ viên
- Nguyễn Thanh Thuỷ Uỷ viên
- Hoàng Gia Vinh Uỷ viên
- Vũ Văn Viết Uỷ viên
Thành tích tiêu biểu từ năm 2005 đến nay:
Đây là Đại hội phát huy dân chủ, đoàn kết, trí tuệ, sáng tạo và đổi mới. Đại hội VI văn học nghệ thuật là tiếng nói tâm tư, tình cảm, là hoạt động tinh thần cao đẹp thể hiện những khát vọng lớn của con người, là nhân tố khơi dậy nuôi dưỡng những tình cảm cao đẹp và nhân văn giúp công chúng hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ. Đại hội VI này, Hội Văn học Nghệ thuật Phú Thọ nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Bộ VHTT, các Hội chuyên ngành TW, sự phối hợp có hiệu quả của các Sở, ban, ngành các huyện, thị trong tỉnh. Với phương hướng của Đại hội đề ra: củng cố và phát triển tổ chức Hội, đoàn kết đội ngũ nâng cao năng lực sáng tạo và phẩm chất chính trị của văn nghệ sỹ, phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị của tỉnh và đất nước, bằng các hoạt động VHNT. Phấn đấu để có nhiều tác phẩm và công trình nghệ thuật phản ánh sinh động cuộc sống, xứng đáng với truyền thống lịch sử và văn hoá của vùng đất Tổ. Giải thưởng Hùng Vương và giải thưởng 5 năm về văn học - nghệ thuật (2000-2005) đã có:
+ 03 giải thưởng Hùng Vương (mỗi giải thưởng Hùng Vương trị giá 15 triệu đồng):
1. Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn, với tiểu thuyết "Chớm nắng"
2. Nhà viết kịch Trịnh Hoài Đức, với tập kịch "Thiếp hồng"
3. Nhà thơ Kim Dũng, với tập thơ "Lòng tay hình châu thổ"
+ Tặng giải thưởng 5 năm về văn học nghệ thuật (2000-2005):
- Tặng 08 giải A, giá trị mỗi giải 8 triệu đồng
- Tặng 16 giải B, giá trị mỗi giải 5 triệu đồng
- Tặng 14 giải C, giá trị mỗi giải 3 triệu đồng
Hội VHNT Phú Thọ đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Hội 1975 - 2005 với sự có mặt của nhiều đại biểu các cơ quan trung ương, 11 Hội VHNT tỉnh bạn, các đồng chí lãnh đạo Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh và các Sở, ban ngành, các huyện thành thị. Nhân dịp này Hội VHNT tỉnh được tặng Huân chương Lao Động hạng Ba, Tạp chí VNĐT được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen, đã có thành tích xuất sắc trong công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cùng nhiều Bằng khen của UBND tỉnh, UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam và các Hội chuyên ngành TW.
Một số tác phẩm tiêu biểu trong thời kỳ 2005-2007: "Tập kịch Phú Thọ", "Truyện ngắn chọn lọc", "Tuyển tập Sao Mai trong lòng bè bạn" của nhiều tác giả, "Các truyền thuyết và truyện giã sử về Đền Hùng" của tác giả Nguyễn Khắc Xương. Đặc biệt là 2 tuyển tập "Tuyển tập văn học" và "Tuyển tập nghệ thuật". Từ năm 1975 - 2005 trong 3 năm 2005 - 2007 Hội đã xuất bản được 56 đầu sách. Những tác phẩm tiêu biểu như : "Mùa trăng suông" tập truyện ngắn của Phương Quý, "Ngọn nến đêm Nô en" tập truyện ngắn của Xuân Thu, "Mưa mặt trời" tập thơ của Nguyễn Hưng Hải, "ẩm ương đi lấy chồng" tiểu thuyết của Ngô Ngọc Bội, "Người quê" tập truyện của Nguyễn Hữu Nhàn, "Nước mãi trong xanh" tập trường ca của Nông Thị Ngọc Hoà, "Tình núi" tập thơ của Vũ Thanh Thuỷ, "Ra khỏi hoàng hôn" tập thơ của Ngô Kim Đỉnh, "Người cha ở trên trời" tiểu thuyết của Nguyễn Thiện Kế, "Người đàn bà họ Hoàng" tập truyện của Triệu Hồng, "Sợi dây chuyền định mệnh" tiểu thuyết của Nguyễn Anh Đào, v.v...
Giờ đây nói đến văn nghệ sĩ Phú Thọ về văn xuôi phải kể đến các tên tuổi như Sao Mai, Nguyễn Hữu Nhàn, Ngô Ngọc Bội, Khánh Hoài, Nguyễn Lê, Thiện Kế, Nguyễn Anh Đào, Bùi Thanh Ninh, Vương Hồng, Xuân Thu, Tuyết Trinh, Nguyễn Hùng Sơn, Bùi Thắng, Nguyễn Văn Lạc, Phương Quý, Triệu Hồng, Phan Nghị...
Về thơ có: Nguyễn Đình ảnh, Nông Thị Ngọc Hoà, Kim Dũng, Nguyễn Hưng Hải, Ngô Kim Đỉnh, Phạm Việt Đức, Trần Dư, Điền Ngọc Phách, Nguyễn Hỷ, Giang Châu...
Mỹ thuật có: Đỗ Ngọc Dũng, Hoàng Gia Vinh, Nguyễn Lương, Nguyễn Lợi, Quang Thái, Huy Tuyển, Bá Đạo...
Âm nhạc có: Đào Đăng Hoàn,Trịnh Hùng Khanh, Đỗ Trọng Khiêm, Nguyễn Hùng, Vũ Văn Viết...
Sân khấu có: Trịnh Hoài Đức, Văn Lợi, Phạm Đăng Ninh, Duy Phượng, Ánh Tuyết, Tự Dung, Xuân Hương, Hoàng San, Minh Luân...
Nhiếp ảnh có: Phan Đinh, Vân Trang, Thanh Thuỷ, Võ Huy Minh, Đắc Phượng, Ngọc Kỳ, Anh Bào...
Nghiên cứu có: Nguyễn Khắc Xương, Dương Huy Thiện, Lê Như Kỳ, Nguyễn Anh Tuấn, Đoàn Hải Hưng...
Cho tới nay trong tổng số hội viên của Hội Văn học Nghệ thuật Phú Thọ là 150 với 8 chuyên ngành và hai câu lạc bộ nghệ thuật đã có 54 văn nghệ sĩ đã được kết nạp hội viên của các Hội Trung ương: 9 nhà văn, nhà thơ là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (Sao Mai, Khánh Hoài, Nguyễn Hữu Nhàn, (Nguyễn Đình ảnh mất cuối năm 2006), Nguyễn Lê, Nông Thị Ngọc Hoà, Nguyễn Hưng Hải, Kim Dũng, Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Thiện Kế); 8 nhạc sĩ là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam (Đào Đăng Hoàn, Trịnh Hùng Khanh, Đỗ Trọng Khiêm, Vũ Văn Viết, Nguyễn Hùng, Đoàn Đăng Đức, Phạm Đăng Ninh, Nguyễn Văn Cúc) 4 hoạ sĩ là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam (Đỗ Ngọc Dũng, Hoàng Gia Vinh, Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Lương); 3 nghệ là hội viên Hội nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam (Phan Đinh, Vân Trang, Thanh Thuỷ); 14 tác giả kịch, diễn viên là hội viên Hội nghệ Sân khấu Việt Nam (Trịnh Hoài Đức, Đinh Thị Xuân Hương, Phạm Đăng Ninh, Huy tuyển, Hoàng San, Duy Phượng, Trọng Bằng, Tự Dung, Văn Thắng, Văn Lợi, Ánh Tuyết, Minh Luân, Quốc Giới, Việt Hà); 6 nhà nghiên cứu là hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam (Nguyễn Khắc Xương, Dương Huy Thiện, Dương Văn Thâm, Đào Đăng Hoàn, Nguyễn Hữu Nhàn, Đoàn Hải Hưng, Nguyễn Anh Tuấn); 12 tác giả là hội viên Hội văn nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam (Nông Thị Ngọc Hoà, Nguyễn Hữu Nhàn, Đỗ Ngọc Dũng, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Khắc Xương, Đinh Anh Bào, Trần Quang Ninh, Vũ Văn Viết, Lê Phan Nghị, Nguyễn Anh Đào, Phương Quý, Võ Huy Minh); 2 tác giả là hội viên Hội nghệ sĩ Múa Việt Nam (Nguyễn Hùng và Ngọc Ánh); Hai nghệ sĩ Phan Đinh và Vân Trang đồng thời là hội viên Hiệp hội nhiếp ảnh quốc tế FIAT...
Các tác giả trên đã và đang là những gương mặt tiêu biểu của Hội Văn nghệ Phú Thọ, đồng thời họ cũng là những người có ảnh hưởng nghề nghiệp nhất định trong giới đối với cả nước. Cùng với họ còn có hàng trăm hội viên, cộng tác viên sáng tác sôi nổi hoặc âm thầm lao động nghệ thuật, phát huy truyền thống văn hoá của vùng Đất Tổ, phấn đấu tạo ra những sản phẩm VHNT có chất lượng cao mang đậm bản sắc dân tộc vùng Đất Tổ Vua Hùng, góp phần tạo nên diện mạo của nền văn học nghệ thuật Phú Thọ.

CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ

Hội Văn học nghệ thuật Phú Thọ có nhiệm vụ:

- Tập hợp, bồi dưỡng lực lượng sáng tác văn học nghệ thuật có lập trường tư tưởng vững vàng, giàu lòng yêu nước, có ý chí mạnh mẽ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, sáng tạo được nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật, phản ánh sâu sắc đời sống xã hội; góp phần tích cực ổn định tình hình chính trị, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội.

 

Quảng cáo

Tranh nghệ thuật

Một góc Phú Thọ

Thông tin

cỏ nhân tạo sân bóng đá