Danh mục

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 52

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 51


Hôm nayHôm nay : 2566

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 100930

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3601868

Đăng ký nhận bản tin

NHẬP EMAIL ĐỂ NHẬN ĐƯỢC NHỮNG THÔNG BÁO MỚI NHẤT TỪ CỔNG THÔNG TIN ĐÀO TẠO

Tìm kiếm

Ảnh nghệ thuật

NHẬP VÀ TÁCH - Nguyễn Hữu Nhàn

Thứ ba - 27/09/2016 10:10
Tỉnh Phú Thọ được thành lập năm 1891. Năm 1968 Phú Thọ sáp nhập với tỉnh Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú. Năm 1997 Phú Thọ lại được tách ra trở về nguyên trạng tỉnh Phú Thọ cũ.

                                                                                  
 

Với bối cảnh lịch sử của từng thời kỳ, thì việc nhập vào, tách ra để đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội phục vụ cho nhiệm vụ chính trị trước mắt của cả nước là cần thiết.
Với tôi thì việc nhập vào tách ra giữa hai tỉnh đều có lợi cho công việc sáng tác và nghiên cứu văn nghệ dân gian của mình.
Nhờ có sự sáp nhập của hai tỉnh mà địa bàn đi điền dã của tôi được mở rộng. Vĩnh Phúc là đỉnh tam giác châu đồng bằng Bắc Bộ. Con người từ trung du thượng du quen với kinh tế nương rẫy, ruộng dộc chưa biết thâm canh, chưa cần có yếu tố cộng đồng cao hơn cần huy động nhiều sức người sức của hơn để có những hồ chứa nước lớn và những con đê to giữ được xóm làng đồng lúa của mình. Con người miền đồng bằng sớm biết dẫn thủy nhập điền cần phải có những con sông, kênh dài lớn. Ở đây mới bắt đầu biết đến từ “thâm canh”, biết nói “nhất phân, cần, giống” trong canh tác. Vĩnh Phúc vì thế có làng Đồng Vệ thờ thần gắp phân. Tôi viết bài bút ký về Đồng Vệ có nhắc đến tục thờ này, bị một số ông kiện về nhà Đài tội bêu xấu làng họ. Nhưng họ đâu biết dân gian cổ sơ quê họ, đã rất sâu sắc trong hèm tục cầu cúng của mình là để đề cao phương thức thâm canh cây lúa nước là cây trồng chính của người Việt từ thuở ấy. Và tục này cũng chỉ mới có từ sau ngày người Hán xâm nhập xuống nước ta. Dân ta trước đó mới chỉ biết “đao canh hỏa chủng” hoặc “đao canh thủy nậu” (chặt cây đốt lấy tro than hoặc ghìm thối trong nước làm phân). Đến đây mới biết dùng phân Bắc. Phân do người phương Bắc chỉ cho.
Ở Phú Thọ có làng Dòng là đất học. Ở Vĩnh Phúc mới thật sự có nhiều người đỗ đạt cao. Cả những làng như Tứ Trưng, Sơn Đông nếu tôi nhớ không sai thì mỗi làng đã có đến 50 người đỗ cử nhân Hán học và 10 ông Tiến sĩ lưu danh ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám hoặc văn bia đình làng họ.
Vĩnh Phúc lại có những kiến trúc đá bậc nhất miền Bắc do quan đại thần người làng xây dựng trước hết để thờ ông ta và sau đó là tổ chức bình văn khuyến khích người hiếu học để người tài bất kể giàu nghèo trong làng phát triển thành tài.
Những lễ hội thề của một cộng đồng người cổ sơ nhất còn để lại dấu ấn ở làng Tiên Lữ - Lập Thạch rồi việc tổ chức cộng đồng làng xã các lễ hội dân gian ở đây với trăm làng trăm kiểu cho tôi hiểu rõ câu “Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”.
Nhờ vậy mà khi tách tỉnh tôi được hai ông Giám đốc Sở Khoa học và Sở Văn hóa Vĩnh Phúc mời làm một đề tài “Nghiên cứu văn hóa làng ở tỉnh Vĩnh Phúc”.
Trở về Phú Thọ tôi cũng được địa phương mời tham gia nghiên cứu văn hóa làng của tỉnh mình. Tôi mời ông Nguyễn Khắc Xương vừa cao tuổi lại vừa có kinh nghiệm hơn 40 năm đi điền dã sưu tầm tư liệu trong dân gian, tôi chỉ còn mất công sưu tầm, nghiên cứu những mảng còn thiếu và viết báo cáo tổng kết công trình. Đề tài của chúng tôi được Hội đồng bỏ phiếu xếp hạng xuất sắc.
Cũng lại do địa bàn tỉnh thu hẹp, trở lại nguyên trạng tỉnh Phú Thọ cũ tôi đi sâu hơn và nhờ vậy mới phát hiện ra nhiều điều mới lạ hơn. Người Mường vốn có tục “làm mơi”, còn gọi là “múa mỡi” là sinh hoạt văn hóa lễ hội rất lớn của mọi bản mường từ ngày mùng 3 đến hết Rằm tháng Giêng ở mọi ngôi nhà các thầy cúng: ông mo bà mỡi để trả ơn các thánh thư, tổ sư nghề thầy cúng. Vì trong tục “làm mỡi” có nhiều dấu tích của sa man giáo, của nhập đồng, thăng đồng... nên người ta cho đó là hoạt động mê tín dị đoan, bị cấm đoán từ lâu nên ở khắp các vùng Mường cả nước không còn ai nhắc đến. Tôi phát hiện đây là một sinh hoạt văn hóa lớn của người Mường. Tôi viết gần trăm trang tư liệu giải thích về tục “làm mỡi”, được các nhà khoa học ở Viện nghiên cứu văn hóa nghệ thuật ủng hộ tổ chức dàn dựng, được chương trình “Gìn giữ cho muôn đời sau” của VTV3 Đài Truyền hình Việt Nam phát nhiều buổi, nhờ vậy tục “làm mỡi” mới lại được nhắc đến.
Lên huyện vùng cao Thanh Sơn, Yên Lập tìm hiểu về người Dao Tiền và Dao Quần Chẹt, tìm đọc tham khảo các sách nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam tôi thấy nếu không biết gì về văn hóa dân gian người Dao ở Phú Thọ thì sẽ không bao giờ hiểu hết lịch sử văn hóa dân gian người Dao ở Việt Nam. Nguồn sử này chủ yếu dựa vào văn cúng và một số phong tục riêng của đồng bào.
Nhiều nhóm người Dao có tục làm “tết nhảy” là tết tạ ơn trời đất thánh thần, tổ tiên phù hộ họ vượt qua tai nạn trên biển Đông vào được Việt Nam, miền đất hứa thì sau này sẽ làm tết nhảy để tạ ơn. Thuyền không mắc nạn không phải làm tết nhảy. Các sách nghiên cứu về người Dao thì kết luận làm tết nhảy là do đồng bào theo đạo Giáo. Đó là họ thực hành nghi lễ của đạo Giáo. Nói vậy là chưa đầy đủ vì ở Việt Nam có biết bao tộc người như Cao Lan, Xán Cháy, cả người Kinh, người Mường cũng ảnh hưởng đạo Giáo nhưng đâu có tết nhảy.
Trong cuộc thiên di của người Dao vào Việt Nam lớn nhất là ở thời Lê sơ ứng với cuối đời Minh - Trung Quốc. Người Dao ở Trung Quốc luôn phải chống chọi lại người Mãn tràn xuống cướp phá. Thế lực của họ ngày càng lấn lướt nên các bộ tộc người Dao ở “Dương Châu Bản Bộ” đã xin với nhà vua cho di tản xuống Việt Nam. Sự kiện này được Vua Lê chấp nhận. Vì thế trong văn cúng của đồng bào ở “tết nhảy” có gọi đến Vua Hùng và Vua Lê sánh ngang với Bàn Vương, ông Tổ người Dao.
Cuộc thiên di lớn nhất này của người Dao vào Việt Nam bằng 7 xà lan lên ở đầu tiên là ở đất Ba Hạc nay gọi Bạch Hạc. Nhóm theo bà họ Đặng ngược sông Đà, nhóm theo họ ông Bàn ngược sông Thao và nhóm theo ông họ Triệu ngược sông Lô...
Đặc biệt có nhóm Dao Đeo Tiền vì theo bà họ Đặng nên mặc váy và đeo tiền sau cổ áo để tưởng nhớ đến vị thành hoàng dẫn dắt nhóm tộc người mình đi khai sơn phá thạch ở miền đất hứa. Do sống du canh du cư ở miền núi cao rừng rậm nên con người là vốn quý nhất của mọi gia đình. Gia đình không căn cứ ở huyết thống mà ở tâm linh. Đồng bào quan niệm vợ ta là “ma” họ nhà ta thì nó đẻ con ra con nó phải là “ma” nhà ta, không thể theo về “ma” họ khác. Từ đấy mới có tục “ngủ thăm”. Những cô gái có chửa ngoài giá thú rất được đề cao là vì vậy. Trừ phi cô đã lập gia đình có vợ chồng rồi mà chửa hoang mới có nơi coi là có tội. Các nơi khác chỉ bắt góp lễ cúng ma buộm là xong.
Tôi viết bộ phim “Gió thổi qua rừng” 7 tập lấy bối cảnh ở rừng quốc gia Xuân Sơn. Tôi tuyên truyền bảo vệ rừng, thông qua bảo vệ bản sắc văn hóa của đồng bào. Những cặp “trai thanh gái làng” tiến bộ đấu tranh bảo vệ tình yêu đôi lứa bị các ông bố bà mẹ bảo thủ ép con gái cho ngủ thăm với người mình không yêu. Anh Trần Đăng Lâu - Giám đốc Vườn quốc gia Xuân Sơn đi họp thế giới được biết qua VTV4 các Giám đốc Vườn quốc gia ở Thụy Sỹ, Pháp họ bày tỏ rất thích xem phim ấy. Họ bảo người Việt Nam còn tây hơn cả Tây.
Thế là tôi viết một loạt bài khảo cứu và truyện ngắn có chất lượng đặc sắc về người Dao Phú Thọ gửi in các báo, tạp chí Dân tộc học, Văn nghệ, báo Nhân dân cuối tuần, tạp chí Toàn cảnh v.v...
   Tiến sĩ dân tộc học, Phó chủ tịch Hội VNDG Việt Nam Trần Hữu Sơn phát hiện thấy những bài viết của tôi có căn cứ khoa học đã cử người về nhờ tôi đưa đi điền dã các bản động người Dao ở Phú Thọ. Trở lại địa bàn người Mường Phú Thọ, tôi phát hiện đây cũng là xứ Mường gốc chứ không chỉ riêng có vùng Thanh Hóa, Hòa Bình như quan niệm của mọi người lúc đó.
Người Mường, gốc gác là người Lạc Việt, còn gọi là người Việt Mường hay gọi là người Việt cổ là chủ nhân của nước Văn Lang, cũng là chủ nhân của trống đồng Đông Sơn như khoa học thế giới đã xác nhận. Về sau do chiến tranh, Trống đồng loại II đơn giản hơn, đã thay thế Trống đồng loại I cũng chỉ do người Việt Mường làm ra nên sau chỉ có ở địa bàn cư trú của người Mường. Trống này nếu gọi là Trống đồng Mường cũng được, đã tìm được ở Thanh Sơn, Yên Lập, Thanh Thủy hơn 80 cái. Trống này tìm thấy ở các địa bàn người Mường các tỉnh khác cộng lại chưa được 30 cái. Vì thế không thể kết luận người Mường Phú Thọ được trôi dạt từ Thanh Hóa, Hòa Bình sang. Những di chỉ khảo cổ các niên đại sớm đều phát hiện dày đặc ở vùng Mường Phú Thọ. Có điều số dân người Mường ở đây ít nên họ không đủ bản lĩnh để bảo tồn sắc thái dân tộc mình (tiếng nói, nhà sàn) lại do sự tác động mạnh mẽ của các phong trào di dân khai hoang làm cho “Miền núi tiến kịp miền xuôi” nên giờ đây người Mường đã và đang được kinh hóa rất mau chóng.
Phú Thọ vốn là đất Tổ cả nước vì các Vua Hùng có đóng đô ở đây làm tấm phên dậu che chắn cho cả nước chặn đứng người Âu Việt từ mạn Tây Bắc xuống cướp phá.
Trong lịch sử hàng ngàn năm từng có nhiều phen vua, lạc hầu, lạc tướng... phải chạy loạn về tạm đóng đô ở Sơn Tân, Nghệ An để củng cố lực lượng đủ mạnh mới lại quay lên đuổi giặc ra khỏi bờ cõi của mình. Vì thế tài liệu dân tộc học, văn hóa văn nghệ dân gian đặc biệt về chứng cớ vật chất có nhiều di chỉ khảo cổ chứng minh rõ nhất về điều này. Di chỉ văn hóa “Đông Sơn” thuộc về làng Cả Việt Trì có thể coi đây là nghĩa trang Mai Dịch ở thời các Vua Hùng. Nghĩa trang này phát hiện có nhiều đồ tùy táng quý bằng đồng, bằng đá, chuỗi hạt ngọc... được chôn theo người. Đó phải là mộ của những người có quyền thế: Lạc hầu Lạc tướng chẳng hạn. Có điều Mai Dịch thời Hùng Vương có lẫn cả mộ lính tráng, dân thường với đồ tùy táng chôn theo như vũ khí, vật dụng: con dao, cái búa, cái mác, cái bát ăn chẳng hạn. Cả trống đồng thu nhỏ chỉ có thể được chôn theo những vị Lạc tướng công thần mà thôi.
Hơn nữa Phong Châu, Việt Trì là nơi hợp lưu của ba con sông lớn: Sông Thao, sông Đà, sông Lô, mà theo lý thuyết xưa nay thì nơi tụ thủy cũng là nơi tụ nhân.
Đứng ở gò cao, gò gác của làng Văn Khúc nhìn bao quát về phía ngã ba sông Việt Trì thấy rõ nước mênh mông bao quanh xóm làng đồi núi. Ba ngọn núi ở Đền Hùng cao vượt lên sừng sững trở thành những cái cột trụ vững của cả vùng rừng, làng xóm neo đậu vững chắc xung quanh. Tại làng này còn nhiều ngôi đình đền thờ nơi Vua Hùng gặp và cưới nàng con gái xinh đẹp tên là Quế Hoa. Ở đây còn có đền thờ nơi Tản Viên - người Mường con rể Vua Hùng thường hội kiến với ông Ma Khê người Tày để bàn bạc việc quân cơ của triều đình. Ông Ma Khê là tộc trưởng người Tày họ Ma vì chống lại người Tày Thái cổ của nước Âu Việt nên được Vua Hùng cho căn cứ vùng Tây Bắc của kinh thành Phong Châu. Tương truyền ông sang lấy vợ ở chân núi Nỏn, là quả núi nhỏ nhất trong ba quả núi ở Đền Hùng. Núi Nỏn là bé nhỏ theo cách gọi của ngữ hệ Tày Thái cũ. Người Tày Thái cổ gọi tre là pheo. Ở đây cũng có xóm gọi là xóm Bản Pheo là vì vậy. Theo thống kê của Ban di tích Đền Hùng thì quanh Đền Hùng đã có 50 địa danh đồng ruộng được gọi là na hoặc nà theo cách gọi của người Tày Thái và Việt Mường cổ.
Thời Việt cổ hai nhóm Việt Mường và Tày Thái cổ đã chung lưng đấu cật khai phá vùng đất này. Đoạn sông Hồng từ Yên Bái về Việt Trì được gọi theo ngữ hệ Tày Thái cổ: Nậm Tao tức là dòng Thao.
Khi Thục Phán đánh thắng Vua Hùng xây thành Cổ Loa để bảo vệ bờ cõi. Có lẽ vì thời thế lúc ấy Thục Phán đã biết xử lý khôn khéo trong công cuộc bình định đất nước. Mở hội thề nhận mình cũng là tông phái họ Hùng (theo truyền thuyết) khuyến khích nhân dân thờ cúng Hùng Vương. Thục Phán còn cho xây đền Lăng Sương thờ bà Đinh Thị Đen sinh ra Thánh Tản Viên đã có công khuyên Vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán để tránh cho trăm họ Lạc Việt và Âu Việt khỏi nạn đầu rơi máu chảy.
Thực tế khắp cả nước đâu đâu cũng chỉ thấy thờ Vua Hùng cùng với các nhân vật thời Hùng. Hiếm hoi lắm mới có ngôi đền thờ Thục Phán như ở Cổ Loa và Con Cuông (Nghệ An).
Có lẽ vì cần sự đoàn kết dân tộc hơn mà từ sau đó những chuyện chém giết đau lòng của hai bộ tộc Việt trải qua hàng nghìn năm đã không được nhắc đến đích danh mà chỉ gọi phiếm chỉ bằng đánh giặc chung chung. Có thể nạn đó đã được ông cha ta ký thác trong truyền thuyết thiên tình sử Sơn Tinh, Thủy Tinh có đậm đặc ở dọc đôi bờ con sông Đà, sông Thao vậy.
Thời tiền sử người Lạc Việt và Tày Thái cổ ở xen lẫn theo tả ngạn hữu ngạn 3 con sông. Đó là mảnh đất màu mỡ có nhiều sình lầy khai phá dần thành ruộng dộc, cuốc dẵm nhụt cỏ cho mục thối thành phân phải trườn trên những tấm ván những cây bương tránh bị ngập lụt vì bùn lầy sâu hàng chục mét.
Tuy thế đồi đất trung du Phú Thọ hãy còn giàu có đầy lâm lộc ở trên gò, trên rừng và đầm bãi có cơ man tôm cua ốc ếch cho con người thu lượm đảm bảo cuộc sống của mình.
Thời trung cận đại, vùng đồng bằng đất hẹp người đông rồi từng đoàn người lại bồng bế nhau lên để sinh cơ lập nghiệp vừa tránh tội với làng với nước.
Làng Phú Thọ ra đời khác với kiểu làng ở Vĩnh Phúc và vùng đồng bằng do nhiều yếu tố, dân cư, hình thức kinh tế, lối canh tác dẫn theo lối sống, lối ứng xử giữa người với người, giữa người với thiên nhiên rất khác nhau giữa Vĩnh Phúc và Phú Thọ là vì vậy.
Khi Vĩnh Phúc sáp nhập vào Phú Thọ tôi được một cái nhìn rộng bao quát nhưng khi tái lập trở lại đã cho tôi một cái nhìn sâu hơn để có sức khái quát rõ ràng hơn. Đó là cảm tưởng của tôi nhân kỷ niệm 20 năm tái lập lại tỉnh Phú Thọ của mình.
                                                                                                        N.H.N
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Quảng cáo

Tranh nghệ thuật

Một góc Phú Thọ

Thông tin

cỏ nhân tạo sân bóng đá