Danh mục

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 32


Hôm nayHôm nay : 2671

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 91101

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3592039

Đăng ký nhận bản tin

NHẬP EMAIL ĐỂ NHẬN ĐƯỢC NHỮNG THÔNG BÁO MỚI NHẤT TỪ CỔNG THÔNG TIN ĐÀO TẠO

Tìm kiếm

Ảnh nghệ thuật

MỘT KHÚC SÔNG QUEN - Truyện ngắn của HOÀNG BÌNH TRỌNG

Thứ năm - 17/11/2016 08:41
Đặt được chiếc ba lô xanh to sụ lên tấm ván bắc qua đôi mạn thuyền, Giê-rít lấy khăn lau mồ hôi trên khuôn mặt vuông vức có bộ râu quai nón trắng toát như bọt xà phòng. Đoạn, ông đem thuốc lá thơm ra mời và dùng tiếng Việt khá phong phú của mình bắt chuyện với mấy người chung quanh.
 
Thấy trong cặp mắt ốc nhồi của Giê-rít mỗi lúc một thêm ngơ ngác, Ben- ni, cậu con trai mười sáu tuổi nhưng to lớn như một cầu thủ bóng đá của ông, khẽ nói vào tai bố:
- Mấy người ngồi sau lưng chúng ta đều quê gốc vùng này, phải không ạ? - (Giê-rít gật đầu bảo “phải”). Ben-ni tiếp - Họ không biết cô Tạ Thị Tuân nay ở đâu, hay sao?
- Chẳng ai biết gì về người đàn bà tuyệt diệu ấy cả. Thế mới lạ, nhưng thôi, im đi nhé!
Con thuyền chở khách du lịch đã rời bến Lở giữa tiếng sóng vỗ oàm oạp quanh bãi đá có bóng tre trùm mát rượi và tiếng gió reo phầm phập trên lá buồm rực nắng. Không ai bảo ai, cả Giê-rít lẫn Ben-ni đều cố ngồi cho thật ngay ngắn. Trước mặt họ, dòng sông như dải lụa uốn lượn giữa đôi bồ có vườn cây trái xum xuê, có bãi mía, nương dâu tươi tốt, có vách đá xây thành và trên những bức thành thiên tạo đó, là bao nhiêu hoa vàng, hoa đỏ, bao nhiêu chim chóc, khỉ vượn đang tưng bừng nhảy múa reo vui, làm cho cha con họ gần như bị thôi miên.
- Đây là sông Son, phải không ba?
Giê-rít giật mình thảng thốt trước giọng nói khẽ khàng của cậu con trai.
- Sông Son đấy. - Ông trả lời, sông Son là một trong hai chi lưu lớn nhất của sông Gianh. Con có thấy nước sông trong lắm, không nào?
- Trong đến nỗi có thể nhìn thấy cả những con tôm càng bò lê tận dưới đáy kia mà. Thế cái nhánh sông nho nhỏ phía bên trái kia tên gì, ba biết không?
Giê-rít nhìn theo hướng của cậu con trai với vẻ mặt xúc động như của người xa quê lâu ngày mới trở về.
- Biết chứ. Sông Cửa Động đó.
- Tức là con sông chảy vào động Phong Nha chứ gì? - Cậu con trai gần như chồm lên, ngắt lời cha - Hóa ra, động Phong Nha lại đi ngầm trong trái núi nom như con tê giác khổng lồ kia, rồi rao? Ồ vậy thì... chiếc F.105 của ba hồi đó bị bắn cháy phía bên kia, đúng không ạ?
Giê-rít nhớ nhác nhìn quanh, véo vào hông con:
- Nói năng chẳng biết giữ ý tứ gì cả. Lỡ ra quanh đây cũng có người nào biết tiếng Anh như chúng ta thì sao?
- Chẳng có ai đâu, nếu biết, nãy đến giờ họ bắt chuyện với con, chứ sao lai phải chỉ chỉ trỏ trỏ như nói với người câm vậy?
- Hừ... ừm.
Tuy thế, Giê-rít cũng tin Ben-ni đoán đúng:
- Chiếc F.105 do ba lái ngày ấy bị bắn cháy đúng trên chỏm hình cái mào gà kia kìa, - Giê-rít tiếp, và hạ thấp giọng - Hôm đó, sau khi thoát khỏi một ca đặc biệt nguy hiểm là sự rượt đuổi của quả tên lửa đất sườn núi đá, chiếc F.105 của ba phải nhào xuống bến phà Xuân Sơn trút nốt mấy quả bom cuối cùng trước khi chuồn về chiếc tàu sân bay của hạm đội Bảy ngoài biển khơi, thì không may, lại ăn đạn của một khẩu trung liên được bố trí rất khôn khéo ngay giữa nương dâu ven sông Son. Cụ thể là chỗ kia kìa. Rồi sau đó...
- Sau đó thì con biết rồi, biết kỹ lắm rồi.
Đúng là Ben-ni biết kỹ lắm rồi thật, câu chuyện ấy cậu ta chẳng được bố kể đi, kể lại đến hàng chục lần rồi là gì? Đại khái thế này: Sau khi biết máy bay mình trúng đạn, Giê-rít cố gắng lái cho nó bay về phía rừng xanh được ít nào hay ít nấy, rồi mới nhảy dù, với ý định sẽ đặt chân ở nơi xa các làng bản để có thì giờ đánh điện về hạm đội Bảy xin cho đem trực thăng đến cứu. Nhưng hôm đó gió Lào thổi mạnh, dù của Giê-rít vừa bật ra khỏi chiếc F.105 bốc cháy như bó đuốc, đã bị gió cuốn bay vù vù về phía sông Son, hạ cánh ngay trước cửa động Phong Nha. Tệ hơn nữa là nó không rơi hẳn xuống đất, mà vướng vào một cành sung đổ oam oam ra ngoài sông, khiến Giê-rít bị treo lủng lẳng như người thắt cổ. Đang định lấy dao cắt món dây nhợ lằng nhằng quanh mình để nhào xuống nước, nhưng anh ta nhìn thấy, ngay dưới chân, theo chiều thẳng đứng, là mấy cụm đá sót nhọn hoắt như răng sói, mà nếu rơi vào đó không tan xương cũng nát thịt, nên chẳng dám cựa quậy.
Chợt có tiếng trống, tiếng mõ, tiếng cồng, rồi tiếng chiêng nổi lên làm náo động cả một vùng sông nước. Hàng chục chiếc thuyền độc mộc, mỗi chiếc có từ ba đến năm người mang theo dao mác, gậy gộc, thậm chí cả cung tên, cuốc thuổng... nối nhau vào sông Cửa, và lần lượt ghé vào bãi đá phía bờ phải. Người ta chỉ trỏ. Người ta hò la. Người ta nhảy đại lên bờ. Người ta bươn bả treo lên gốc cây sung có chiếc cành đang là vật cản không cho tên giặc lái Mỹ rơi xuống nước...
Vào thời kỳ này vốn tiếng Việt của Giê-rít chưa phong phú như bây giờ, nhưng vừa nghe vừa đoán, Giê-rít cũng hiểu được mình đang đối mặt với những người dân bình thượng đi tìm bắt phi công nhảy dù và không khéo, họ có thể phanh thây xé thịt mình ra trăm nghìn mảnh để trả thù cho mồ mả ông bà bị bom Mỹ đào lên đổ xuống cho xóm làng tươi đẹp của họ bị na-pan Mỹ thiêu đốt thành tro than...
- Chỉ được bắt sống, không được đánh đập, bắn giết tù binh!
Bất thình lình, có một giọng nữ cao, gào to hết cỡ làm cho những tiếng ồn ào khác bị chìm xuống. Và từ sau những cái trụ chằng có nhiều cây chạc rốôc và dây hoa bìm bịp nọ, một người con gái nhỏ nhắn, đội mũ rơm, xách súng AK báng gập băm bổ bước ra. Cô ta đi đến đâu, cả cái đám đông hỗn độn kia tự động giãn ra và im phăng phắc đến đó.
- Này, anh kia! Anh định làm trò gì thế hả? - Cô ta lại gào lên và đứng ưỡn ngực trước một cây cung có mũi tên lắp sẵn - Giỏi thế sao lúc nãy không ra trận địa mà bắn nhau với nó khi nó còn bay trên trời? Còn bây giờ, khi nó đã như cá mắc vào lưới, thì đến đứa trẻ lên năm cũng giết được nữa là anh. Thôi, bây giờ xin các vị tránh ra, và có thể thì cảnh giới nó giùm tôi, để tôi làm phận sự.
Chọn ngay trong đám đông một chàng trai “dễ bảo” nhất, để trao lại khẩu AK và gần như ra lệnh cho anh ta làm nhiệm vụ cảnh giới. Xong, cô bám vào các gờ mấu xù xì quanh gốc sung, thoăn thoắt trèo lên đến chạc ba. Rút dao rừng đeo sẵn bên hông, cô chặt liên hồi kỳ trận vào cái cành đổ ra ngoài sông cho đến lúc tiếng kêu lắc rắc báo hiệu cành sắp gãy, thì dừng lại, tra dao vào vỏ. Cô rón rén nhích dần ra phía ngoài, nhích đến đâu, cô nhún khẽ đến đó. Mãi lúc cô ra gần đến tận ngọn, thì cái cành cây ấy mới gãy gục một cách từ từ. Nhờ thế, cả cô, cả tên giặc lái đều được hạ cánh xuống cụm đá sót nọ một cách an toàn, tuyệt đối. Và không thể cho giặc lái kịp có phản ứng, bằng một thế võ gia truyền, cô “điểm huyệt” cho nó thành bất động để dễ dàng lục soát khắp người nó tìm lấy cái loại vũ khí, khí tài và giấy tờ tùy thân. Trong lúc làm việc đó, cô mới phát hiện thấy tên giặc lái bị thương, chảy nhiều máu bên hông. VI không mang theo các thứ bông, gạc trong người, cô đành rút chiếc khăn tang trên đầu xé ra làm băng, băng bó vết thương cho nó. Cái cử chỉ hết sức tự nhiên đó của cô đã làm cho sắc mặt tên giặc lái chuyển nhanh từ vẻ sợ hãi, qua ngạc nhiên, rồi từ ngạc nhiên sang bồi hồi xúc động. Hắn càng xúc đông hơn nữa, vì đúng lúc đó thì một máy bay tiêm kích Mỹ đã xuất hiện trên bầu trời và trong phút chốc, mảnh bom mảnh đạn lại rơi xuống mặt sông gần đấy như mưa rào, thì cô ta liền ấn hắn ngồi sâu vào trong một cái hang đá hình hàm ếch; còn mình chỉ nép hờ phía ngoài như thể muốn che chở cho hắn, không nỡ để hắn bị thương “thêm lần nữa.
Tối hôm đó, khi đã hoàn hồn trở lại, Giê-rít đâm ra tò mò muốn biết cái cô dân quân tươi trẻ, có má lúm đồng tiền, lông mày vành nguyệt xinh đẹp và vẻ như rất có uy quyền đó là ai. Qua trò chuyện với người phiên dịch, Giê-rít biết cô ta tên là Tạ Thị Tuân, nguyên là một nữ sinh lớp mười phải bỏ học vì cả bố lẫn mẹ đều bị sát hại do một trận bom na-pan của máy bay Mỹ. Chính nỗi mất mát to lớn đó đã biến cô gái mặt hoa da phấn ấy thành một cây súng dân quân, rồi thành một trung đội trưởng dân quân thông minh, tháo vát và gan dạ...
Đấy, cái gọi là cuộc “Tào phùng hội ngộ” giữa viên trung úy phi công Giê-rít Ti-tơ với cô dân quân Tạ Thị Tuân xảy ra trong hoàn cảnh kỳ lạ vậy đấy. Sau đó, tất nhiên Giê-rít phải vào nằm nhà đá. Sau đó nữa, Giê-rít được “tháo cũi sổ lồng”: nhờ có cuộc trao trả tù binh giữa các bên tham chiến, về nước, anh ta tham gia vào các phong trào phản đối chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ hăng hái đến mức nhiều lần bị cảnh sát bắt bớ và đã từng lĩnh án một năm tù giam vì tội hô hào thanh niên Mỹ đốt thẻ quân dịch. Thế rồi, vào giữa thập kỷ tám mươi, một sự kiện chẳng ai ngờ tới đã đến với Giê-rít: Ông làm thơ và viết văn xuôi, và chỉ dăm bảy năm sau, ông đã thành một nhà văn có bản sắc riêng, được dư luận rộng rãi nhiệt liệt hoan nghênh. Người ta dễ dàng tìm thấy trong nhiều trang sách ông, bóng dáng của nhân vật “Tôi” được lặp đi lặp lại cùng với những cảm giác rất khác nhau của ông sau những lần dội bom phá, bom bi xuống chợ Phong Nha, chợ Troóc, bắn rốc-két phá sập nhà thờ Gia Hưng, Minh Lễ, đổ lửa na-pan thiêu cháy trường học Khương Hà, Cổ Giang. Bên cạnh đó, người ta cũng dễ dàng tìm thấy trong nhiều trang sách ông, hình ảnh cô nữ dân quân áo nâu chân đất, khi thì đứng bên khẩu đại liên cùng đồng đội bắn trả “đàn quạ sắt” đang hung hăng gây tội ác; khi thì băng mình vào một lớp học mẫu giáo bị trùm kín lửa na pan để cứu sống các em đang khóc gào như xé ruột; khi xé chiếc khăn tang trên đầu để băng bó vết thương cho tên giặc lái Mỹ đã bị bắt làm tù binh... Không nói chắc em cũng biết, cái cô nữ dân quân áo nâu chân đất trong sách ông ấy, dù có được mang tên này, tên nọ đi chăng nữa, thì cũng là phiên bản của một nguyên mẫu Tạ Thị Tuân, mà số phận đã run rủi cho ông và cô ta gặp nhau trong một hoàn cảnh éo le dạo nọ mà thôi.
*
*     *
Thấy hòn đá nọ giống hình con đà điểu, Ben-ni lấy máy ảnh ra định chụp. Nhưng chưa chụp xong, cậu đã nghe cái giọng nói tiếng Anh đơn đốt của cô hướng dẫn viên:
- Thưa quý ông, quý bà, cuộc tham quan động Phong Nha hôm nay đến đây là kết thúc, xin mời quý ông, quý bà quay trở ra.
- Sao đã trở ra nhỉ? Nghe bảo động Phong Nha là một con sông ngầm dài nhất thế giới cơ mà? - Ben-ni ngạc nhiên rồi càu nhàu, không ngờ câu nói đó đã lọt vào tai Giê-rít, ông cười xòa:
- sông ngầm, dài nhất thế giới thật đấy, trên 22 cây số cơ, nhưng đi hết chiều ấy là công việc của mấy tay thám hiểm Hội địa lý Hoàng gia người Anh. Còn chúng ta thì chỉ cần vào đến đây là đủ lắm rồi.
- “Đủ lắm rồi” là thế nào? Hồi đầu năm con đọc báo, thấy nhiều tác giả có nói: so với Phong Nha, thì một số hang động đẹp nổi tiếng thế giới trước đây như Pa-ti-rắc ở Pháp, Cu-ê-va-den-drắc ở Tây Ban Nha chẳng thấm vào đâu cả. Với một danh lam thắng cảnh được xếp vào loại “Thiên nhiên Đệ nhất động” ấy mà mới chui vào được một quãng ngắn, đã gọi là “đủ lắm rồi”, được ư?
Giê-rít vẫn cười xòa:
- Theo con, chúng ta vào đến độ sâu nào là vừa?
- ít ra cũng dăm cây số, vâng, đúng thế ạ. Vì con còn phải chụp cho được những bộ đàn đá để đem về biếu mẹ. Với lại, ba ạ, con cũng muốn tập viết một bài ký về động Phong Nha để gửi cho tờ Si-ca-gô buổi sáng, xem sao.
Giê-rít sướng rơn lên:
- Được, ba sẽ chiếu cố nguyện vọng đó của con, đằng nào thì ba cũng phải lưu lại vùng này mấy hôm để thăm cho hết cảnh cũ người xưa. Thời gian đó, ba cho phép con được gia nhập một đoàn thám hiểm nào đi vào sâu hơn tùy ý.
- Ba nói thật đấy chứ. Hoan hô ba! Vậy con xin chúc ba vạn sự như ý.
Trước hết, con chúc ba một ngày gần đây sẽ tìm gặp được cô Tạ Thị Tuân - nguyên mẫu của một nữ nhân vật anh hùng trong cuốn tiểu thuyết mà ba vừa soạn xong đề cương ấy.
- Cám ơn con. - Giê-rít được gãi đúng chỗ ngứa - Nhưng tìm cho ra cô ấy bây giờ chẳng dễ đâu. Từ sáng tới giờ, lúc ngồi trên thuyền cũng như lúc đi bộ vào hang, hễ gặp ai quê quán quanh đây, ba đều hỏi về cô Tạ Thị Tuân, nhưng chẳng người nào biết chút gì về cô ta tất cả.
- Con nghĩ, có thể cô ấy bây giờ đang là tư lệnh một sư đoàn, một quân đoàn đóng ở nơi nào xa lắm rồi cũng nên. Vì theo như ba nói, thì cô ấy có năng khiếu quân sự lắm cơ mà.
Giê-rít trầm ngâm:
- Nếu nơi khác thì thế thật. Còn ở Việt Nam, những người có năng khiếu quân sự như Tạ Thị Tuân không kể xiết. Vậy chẳng lẽ ai cũng có thể được đề bạt lên làm tư lệnh sư đoàn, quân đoàn cả sao?
- Khó quá nhỉ?... Ờ, ta trở ra thôi ba, mọi người ra hết cả rồi kìa.
Hai cha con họ ra đến cửa hang thì cũng vừa lúc mấy chiếc thuyền đi đón khách du lịch trở về bến Lở đã xuất hiện phía ngoài mấy cụm đá sót.
- Nhớ là phải quay về đúng chiếc thuyền đã chở chúng ta đi buổi sáng đấy nhé. - Giê-rít vỗ vỗ lên bờ vai cậu con trai.
- Con hiểu, con hiểu. Vì buổi sáng chưa trả tiền đò, nên bây giờ chúng ta phải thanh toán cả chuyến đi lẫn về cho họ một thể, - Ben-ni nhanh nhẩu tiếp lời bố. - Kìa, thuyền chở chúng ta đi buổi sáng là chiếc sau cùng kia kìa, ba nhận ra chưa?
- Chiếc thuyền có lá buồm nâu vá hai miếng, với cặp mắt trắng dã được vẽ phía đằng mũi xếch ngược đến ngộ nghĩnh thế, thì sao không nhận ra? Chỉ khác là, cô gái trẻ cầm lái buổi sáng, hiện đang cầm sào chống, còn người cầm lái bây giờ là một... Ô, sao lạ lùng thế này? - Giê-rít bỗng luống cuống như gà mắc tóc.
- Cái gì vậy, ba?
- Cô Tuân! Kia kìa. Chính là người đàn bà cầm lái ấy đấy.
- Cô Tuân đấy ư? Liệu ba có nhầm không?
- Không. Dứt khoát không nhầm. Đúng là Giê-rít không nhầm.
So với cô trung đội trưởng dân quân hồi nào, thì người đàn bà chèo đò bây giờ làn da có kém trắng trẻo, hồng hào, mái tóc có kém mượt mà dày dặn đi chút đỉnh; nhưng cái dáng người thanh thoát, nhẹ nhõm ấy, cái sống mũi dọc dừa thanh tú ấy, cái miệng cười rất đỗi duyên dáng ấy và cặp mắt nhìn vừa đằm thắm dịu dàng lại vừa dữ dội quyết liệt ấy đầy “quyền uy” ấy, thì đúng là Tạ Thị Tuân một trăm phần trăm rồi, chứ nhầm đâu được nữa?
Chiếc thuyền có lá buồm nâu vá mấy chỗ đã ghé vào bãi đá.
Giê-rít theo cậu con trai bước xuống thuyền, tìm chỗ ngồi quay mặt về đằng lái có ý thử xem, người đàn bà nọ có nhận ra mình không? Rồi ông cố đằng hắng thật to, cười thật to, cười bô bô cốt sao cho chị ta để mắt đến mình, nhưng không rõ vô tình hay hữu ý mà chị ta chẳng quan tâm đến ông nhiều lắm.
Giê-rít đâm ra hoang mang, nghi ngờ cả trí nhớ của mình. Nhân có cụ già ngồi cạnh thỉnh thoảng lại mỉm cười với chị ta, ông lân la bắt chuyên:
- Chị lái đò kia tên là Tạ Thị Tuân, đúng không ạ?
- Cái gì hả? - Cụ già tròn xoe mắt - Quái, sao ông biết chị ta từng gọi bằng cái tên Tạ Thị Tuân?
- Từng gọi? - Giê-rít cũng tròn xoe mắt - Chẳng lẽ bây giờ chị ấy lại có tên khác?
- Ơ, Tạ Thị Tuân tên là “hắn” thời còn con gái kia. Sau đó hắn lấy anh chồng tên là Đạo, theo phong tục địa phương, “hắn” được gọi là “ả mới Đạo”. “Hắn” sinh đứa con đầu lòng là thằng Cường, lại theo phong tục địa phương, hắn được gọi là “ả cu Cường”. Do đó bây giờ ông cứ mang cái tên Tạ Thị Tuân ra để hỏi, thì lớp người từ 30 tuổi trở xuống, chẳng mấy người biết đâu nhé.
- Trời ơi! Cám ơn cụ lắm. Hóa ra ở đây có một phong tục hay thế, mà tôi chưa được nghe bao giờ. Hèn chi mà...
Giê-rít quay mặt về đằng lái. Linh tính báo cho ông biết. Cái cô gái trung đội trưởng dân quân ấy, bây giờ đang lăn lộn với bát cơm manh áo hàng ngày hết sức vất vả.
Con thuyền chở khách du lịch đã trở về bến giữa tiếng rao tất tưởi của lũ trẻ bán những chùm quả dâu da vàng hươm, những quả hồng leo đỏ lựng.
Trong khi mọi người chen chúc nhau lên bờ, Giê-rít cố tình dềnh dàng để nán lại. Ông rút ví lấy ra một lúc 12 tờ loại một trăm đô, trao tận tay cho chị Tuân:
- Tiền đò cả đi lẫn về của hai chúng tôi đó.
- Ông nhầm rồi. - Chị Tuân xòe cả mười hai tờ giấy bạc ra như một tay bài tú-lơ-khơ. - Mỗi người cả đi lẫn về chỉ mất có sáu đô-la, hai người là mười hai đô-la, chứ làm gì đến những một nghìn hai trăm đô-la thế này?
- Tôi... Tôi không nhầm, tôi xin... biếu chị đó.
- Biếu ư? Không, tôi không dám nhận quà biếu của các “thượng đế” người nước ngoài đâu ạ.
- Chị câu nệ quá,... Nếu chị không buồn nhận thì tôi xin biếu con gái chị vậy. Có phải cháu gái cầm sào đứng đằng mũi là con chị không?
- Đúng. Nhưng cháu chẳng dám nhận đâu - Cặp lông mày thanh tú của chị Tuân chợt nhíu lại, rồi chị bật cười thành tiếng - Ờ, ờ hay là thế này, ông biếu mẹ con tôi, tôi xin nhận. Sau đó, mẹ con tôi xin biếu lại toàn bộ số tiền này cho cậu bé đằng kia - Chị đưa mắt về phía Ben-ni - Để cậu làm lộ phí mà đi du lịch cho hết những địa danh nổi tiếng trên đất nước Việt Nam. Chắc cậu là con trai út của ông? Nom giống ông ngày xưa như lột!
Giê-rít giật mình:
- Thế chị cũng nhận ra tôi rồi à?
- Trời! Trung úy Giê-rít Ti-tơ! Chúng ta là bạn cũ của nhau, lẽ nào lại không nhận ra nhau?
- Thế sao nãy giờ chị nhìn tôi như người xa lạ?
Chị Tuân cười giòn:          
- Quái! Một người nói sõi tiếng Việt như ông, lẽ nào lại chưa học đến câu: “Chớ thấy người sang, bắt quàng làm họ?”
- Nhưng tôi thì sang trọng nỗi gì?
- Lại còn không sang trọng? Lẽ nào một kẻ không sang trọng lại có thể một lúc, dám bố thí cho người khác những 1.200 đô-la, tương đương hai mươi sáu triệu đồng Việt Nam, một số tiền cả vợ chồng con cái chúng tôi phải làm cật lực hàng năm trời chưa hẳn có được.
- Thôi đi chị Tuân. À quên, ả cu Cường. Nên chấm dứt ngay cái trò cãi vã vô bổ này đi và xin hiểu cho, tôi từ đất Mỹ, vượt nữa vòng quả đất về lại với con sông Son này, không phải chỉ là chuyện làm một chuyến đi du lịch đơn thuần đâu đấy.
Chị Tuân nháy mắt cười ý nhị:
- Chắc hẳn còn muốn gặp lại cảnh cũ, người xưa?
- Đúng thế! - Giê-rít như nổi cáu - Và trong số những ai gọi là “người xưa” ấy, thì quan trọng nhất lại chính là... ả cu Cường.
- Không xạo tẹo nào cả đấy chứ?
- Chắc như đá lát đường vậy.
Cặp mắt bồ câu tuyệt đẹp của chị Tuân ánh lên nhiều tia sáng hân hoan:
- Nếu vậy thì thế này... À trước hết anh hãy cất những tờ giấy bạc này vào hầu bao đi cái đã, nếu không tôi chẳng chuyện trò gì với anh nữa đâu. Ừ. Thế thế... ha ha... Kể ra anh cũng còn biết tôn trọng kỷ luật quân sự đấy chứ.
- Với ánh mắt đầy quyền lực kia của chị, thì ai còn dám không phục tùng.
- Xạo ghê đấy. Thôi, nói chuyện nghiêm chỉnh nhé. Nếu thực lòng anh muốn gặp tôi trong chuyến đi này, thì bố con anh chẳng nên xuôi về khách sạn Nhật Lệ nữa, mà qua nhà tôi nghỉ tạm. Nó kia kìa. Chỉ là thứ cột ke kèo nứa xoàng xĩnh, nhưng nó ở ngay bờ sông Son, gió lúc nào cũng lồng lộng mát gấp mấy nhà có quạt điện. Đến bữa, cao lương mỹ vị tất nhiên là không có, nhưng tôi sẽ mời anh ăn bữa ăn thường của gia đình. Có thể là cơm độn khoai lang ăn với canh tập tàng, với cá bống thun kho mặn.
- Vậy thì thú vị lắm đấy! - Giê-rít reo lên - Chị có nhớ ngày tôi bị bắt làm tù binh, các chị cho tôi ăn khoai với cua đồng kho mặn không? Chui cha! Bây giờ giá được ăn lại mấy thứ đó thì còn gì bằng?
- Tưởng sơn hào hải vị gì, chứ những khoản ấy thì lát nữa, tôi bảo các cháu ra đồng một loáng là có thể đem về hàng gánh cho bố con anh thù tạc.
- Hoan hô! - Giê-rít vỗ tay bôm bốp - rồi chúng ta sẽ có khối thì giờ mà ôn lại những kỷ niệm xa xưa.
- Với lại, chúng ta cũng phải tạo điều kiện cho các cháu làm quen với nhau nữa chứ. Cậu con trai của anh tên gì nhỉ?
- Ben-ni. Thế tên cô con gái của chị?
- Tên cháu là Minh Nguyệt - Chị Tuân trả lời, rồi cất cao giọng - Này Ben-ni, Minh Nguyệt! Hai đứa chúng mày đến làm quen với nhau đi chứ.
Đợi một lát, chị lại quay về với Giê-rít:
- Anh thấy chưa? Hai đứa bắt đầu làm quen lịch lãm vậy đó. Chẳng bù cho thế hệ chúng ta... Buổi đầu gặp anh, thì trước hết, tôi phải “điểm huyệt” cho anh thành bất động cái đã, rồi sau đó mới nói chuyện tình cảm. Rõ khổ!
Nó là “rõ khổ”, nhưng chị Tuân lại cười giòn. Giê-rít có cảm tưởng như bầu không khí ven sông mát mẻ lên rất nhiều theo tiếng cười trong trẻo hồn nhiên đó của chị.
                                                            H.B.T

Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Quảng cáo

Tranh nghệ thuật

Một góc Phú Thọ

Thông tin

cỏ nhân tạo sân bóng đá