Danh mục

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 39

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 38


Hôm nayHôm nay : 1969

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 104595

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3605533

Đăng ký nhận bản tin

NHẬP EMAIL ĐỂ NHẬN ĐƯỢC NHỮNG THÔNG BÁO MỚI NHẤT TỪ CỔNG THÔNG TIN ĐÀO TẠO

Tìm kiếm

Ảnh nghệ thuật

NGƯỜI NHẬP NGŨ KHÔNG CÓ TÊN TRONG DANH SÁCH - Truyện ngắn của Triệu Hồng

Thứ tư - 09/11/2016 21:26
Tôi là chính trị viên đại đội 2, Tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương tỉnh Vĩnh Phú được trên cử về thị xã Phú Thọ nhận tân binh nhập ngũ. Tôi được phân công phụ trách đoàn cán bộ đi lấy quân và cũng là lần đầu tiên về thị xã Phú Thọ. Cả đoàn quân gồm 115 người theo danh sách đã đứng sang bên phải, trên bãi tập trung còn một người nữa. Anh ta đang đứng nghiêm như trời trồng. Tôi gọi cái tên người thiếu vắng mà tôi đã đánh dấu lúc gọi tên.
 
 

- Đồng chí Nguyễn Văn Hiên, sinh năm 1936, trú quán tại phường Phong Châu có mặt không?
Không thấy anh ta thưa, tôi gọi họ tên anh ta lần nữa:
- Đồng chí Nguyễn Văn Hiên có mặt không?
Không thấy anh ta thưa, tôi nói như quát:
- Anh kia điếc à?
- Không, tôi không điếc. Tôi không thưa vì không phải tên tôi ạ.
- Thế, tên anh là gì?
- Dạ, tên tôi là Nguyễn Văn Hiền, sinh năm 1936, trú quán tại phường Phong Châu, thị xã Phú Thọ ạ.
Mọi người đứng trên sân cười ồ lên, tôi suýt nữa bật cười nhưng nén được, bình tĩnh nói:
- Anh có mang giấy nhập ngũ không? Mang lên cho tôi xem!
Anh ta tiến lên chục bước, mở nắp túi sơ mi cũ kỹ, đưa cho tôi giấy gọi nhập ngũ. Đúng tên anh ta là Hiền chứ không phải là Hiên như tên ghi trong danh sách.
Tôi định hỏi cán bộ phường đội và thị đội cho rõ vụ việc này. Nhưng các cán bộ mà tôi muốn gặp đều có việc cần vừa đi công tác. Tôi hỏi người cán bộ của đoàn chúng tôi đi nhận quân, báo cáo là những tên tuổi trong danh sách đã lập không sai, được thông qua các tổ dân cư, các đội hợp tác xã thủ công nghiệp rồi, nên không thể gọi sai.
Không còn thời gian để xác minh nữa, biết vẫn có thể sai nhưng tôi yêu cầu:
- Đồng chí Nguyễn Văn Hiền về chỗ!
Anh ta nhanh nhẹn về chỗ đứng cũ, tôi gọi họ tên:
- Đồng chí Nguyễn Văn Hiền theo lệnh nhập ngũ đã có mặt. Tôi hỏi, đồng chí có xung phong vào bộ đội đánh Mỹ không?
- Dạ, thưa thủ trưởng tôi xung phong ạ.
- Thế là tốt! Đồng chí hãy đứng vào hàng của tiểu đội 3, trung đội 2, nhanh chóng nhận quân trang, mặc vào cho đúng quân phục chiến sỹ mới của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Anh Hiền làm theo lời tôi nói, đi nhanh về phía tiểu đội của mình đứng chờ được phát quân trang. Tôi vẫn cầm giấy gọi nhập ngũ, có nhìn vào chữ viết tên anh, người nào đó đã viết thêm dấu huyền vào cái tên Hiên, với một thứ mực khác hơi mờ hơn thứ mực viết trước. Tôi nghĩ dẫu có sai tên, nhưng anh ta đã có giâý gọi nhập ngũ, đã có mặt tại Thị đội để lên đường về nơi huấn luyện. Hơn nữa, anh ta đã xung phong nhập ngũ kia mà và cấp dưới không thể nào tráo tên người này sang người khác được.
Dọc đường hành quân về đơn vị huấn luyện tại Vân Lĩnh, Thanh Ba tôi hỏi anh ta:
- Hiện nay, gia đình anh Hiền có mấy người, có đủ ăn không? Anh có mấy con rồi, các cháu đi học hành thế nào?
Anh ta vừa đi vừa trả lời:
- Thưa thủ trưởng, gia đình tôi có tám người, tôi đi đây còn bảy người. Tôi và vợ tôi đều là xã viên Hợp tác xã vận tải Thắng Lợi, làm ăn tạm đủ. Tôi có một bố già, đã hơn bảy mươi tuổi rồi và năm đứa con. Đứa bé nhất vừa mới đẻ được ba tháng, các cháu nhỏ tuổi đi nhà trẻ, còn các cháu lớn tuổi đi học cấp I, cấp II tại phường, các cháu đều chăm ngoan, học giỏi.
Tôi nghe, thấy hoàn cảnh gia đình anh khó khăn hơn gia đình tôi nhiều. Tôi có ba con đã nheo nhóc, mà anh có những năm đứa con. Anh là lao động chính, lại đi bộ đội thế này, là binh nhì lấy đâu tiền mà gửi về như tôi là sỹ quan. Tôi đang băn khoăn, chưa biết động viên anh như thế nào, thì anh lại nói:
- Thủ trưởng ạ, huấn luyện tân binh xong thì đồng chí cho tôi đi B dài nhé! Chiến trường đánh Mỹ ác liệt tôi muốn thử sức xem sao. Quân Mỹ có đủ máy bay, tàu chiến, các loại pháo lớn; ta có súng trường, súng máy, các loại pháo nhỏ và có thêm hỏa lực B40, B41 thì sợ gì. Mỹ Ngụy có hơn một triệu quân, ta có ba mươi triệu đồng bào, nếu biết động viên thì quân ta vẫn nhiều hơn.
Thấy anh có phần giác ngộ và lạc quan, tôi khen:
- Đồng chí khá lắm! Huấn luyện xong tôi sẽ đề nghị đội huấn luyện cho đồng chí đi B dài.
Tôi không hỏi chuyện tiếp được nữa vì có một tân binh đau chân không đi được. Anh ta cũng là người nhiều tuổi nhập ngũ, chân có sao đâu mà anh ta kêu đau không đi được. Anh ta cố làm ra bộ đau chân đặt ba lô lên ngồi ở giữa đường. Tôi đành phải gửi anh ta lại trạm xá ở xã Đông Thành ven đường, để dẫn bộ đội về doanh trại cho đúng giờ.
Tôi vẫn băn khoăn về người lính mới nhập ngũ có tên là Hiền. Phần lý lịch gia đình bố mẹ của anh ra sao, lý lịch trích ngang chưa nói lên điều gì. Cần thông qua câu chuyện thăm hỏi để nắm qua, cho thật yên tâm. Tôi chờ đi song đôi với anh Hiền và lại hỏi:
- Bố mẹ anh trước đây làm gì?
- Bố tôi thời kháng chiến chống Pháp ở Đội tự vệ thành Hoàng Diệu, cả chín năm kháng chiến, bố tôi ở Việt Bắc. Hòa bình thì ông phục viên, về ở với vợ chồng tôi, hàng ngày trông cháu, trông nhà làm các công việc vặt. Còn mẹ tôi đã mất từ năm tôi mới lên tám tuổi.
Thế là anh Hiền có lý lịch khá tốt, tôi yên tâm không phải lo gì nữa. Tôi giới thiệu với anh:
- Tên tôi là Nguyễn Đức Chân, thiếu úy, chính trị viên đại đội. Tôi là quân địa phương tỉnh Vĩnh Phú, nhưng quê tôi lại ở bên Phúc Thọ Hà Tây. Tôi sinh năm 1936,  cùng tuổi Bính Tý với anh. Tôi đi làm nhiệm vụ nhận quân đột xuất, bàn giao tân binh cho đơn vị huấn luyện, về đơn vị tôi nhận nhiệm vụ mới, có thể là đi B dài. Nếu tối nay, có xe từ Việt Trì lên đón thì tôi xin chào anh và mọi người.
Anh Hiền nói khiêm tốn:
- Không dám nhận anh là người cùng tuổi, cùng trà với nhau. Nhưng chúng ta có duyên với nhau rồi, ngày nhập ngũ này, anh sẽ nhớ tôi và tôi cũng nhớ anh mãi. Biết đâu, ta còn gặp lại nhau trong chiến trận tại chiến trường miền Nam. Anh và tôi sẽ cùng sát cánh bên nhau giết thật nhiều Mỹ Ngụy nhé!
Tôi chào anh và các tân binh đi về nhà chỉ huy đội huấn luyện. Xe của tỉnh đội đã lên đón chúng tôi trở về đơn vị. Tôi bàn giao nhanh danh sách các giấy tờ của các tân binh và  bàn giao từng chiến sỹ cho cán bộ quân lực của đội huấn luyện và cả người tân binh còn gửi ở trạm xá Đông Thành. Ăn cơm tối, tôi theo xe trở về đơn vị của mình. Tôi đinh ninh rằng, anh Hiền là người không có tên trong danh sách nhập ngũ của phường Phong Châu thị xã Phú Thọ hôm nay. Nhưng vì sao và vì lý do gì, tôi chưa được rõ. Chính tôi là người đã quyết định cho anh nhập ngũ vì tinh thần xung phong của anh, bố anh là chiến sỹ quyết tử thành Hoàng Diệu nổi tiếng. Anh ta tuy nhiều tuổi nhưng khỏe mạnh, thông minh, tinh thần cao, nhất định trở thành chiến sỹ tốt và sẽ lập nhiều chiến công.
Tôi nghĩ đến hoàn cảnh vợ chồng anh Hiền có năm đứa con, đứa còn nhỏ mới ba tháng tuổi, bố già hơn bảy mươi. Kinh tế hoàn toàn dựa vào hợp tác xã thủ công nghiệp, chắc là thiếu thốn lắm. Lúc vợ khỏe, các con khỏe không sao nhưng lúc ốm đau thì rất khổ, gạo tiền không có thì sống sao đây. Nghĩ đến hoàn cảnh của anh và hoàn cảnh của gia đình mình, tôi thương quá khiến nước mắt tràn ra, không ngủ ngay được. Con người ta sống ở trên đời nặng tình nặng nghĩa sao mà không nghĩ tới hoàn cảnh của nhau, thương nhau chứ.
Như đã báo trước, mấy ngày sau, tôi nhận nhiệm vụ mới đưa quân vào B2. Người đưa quân không được về phép thăm nhà như người đi B dài. Tôi tranh thủ biên thư cho vợ, báo tin là tôi nhận nhiệm vụ mới đưa quân vào Nam Bộ. Ở nhà, bố mẹ, vợ và ba con cứ yên tâm là ba, bốn tháng nữa là anh lại trở ra Bắc, không phải lo lắng gì. Anh lên Bắc Thái nhận quân và cùng đoàn lên tàu hỏa vào Nghệ An, và từ Nghệ An thì đi bộ vào chiến trường.
Tôi được cấp trên phiên cấp từ cấp Thiếu úy sang cấp bậc Đại đội bậc phó, xét thành tích, tôi được phong cấp Đại đội bậc trưởng Quân Giải phóng miền Nam, nhận chức Chính trị viên phó Tiểu đoàn 26, thuộc Sư đoàn 7, bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ.
Mỗi tiểu đoàn lúc ấy, chỉ còn hơn 200 quân, chưa kể người ốm đau phải đi viện hoặc điều trị tại bệnh xá trung đoàn. Đại đội còn khoảng trên dưới sáu chục người, người trực tiếp cầm súng chiến đấu chỉ độ khoảng trên ba mươi tay súng, chứ không hơn. Đó là một giai đoạn khó khăn và sau cuộc càn “Vượt biên”, Mỹ Ngụy tấn công sang đất nước Campuchia ta lại gặp khó khăn rất nhiều về quân lực. Thiếu quân, ta có chi viện của hậu phương miền Bắc, nên các đơn vị chiến đấu được bổ sung thêm lấy lại sức mạnh ban đầu. Người trẻ tuổi ở miền Bắc đã kịp lớn lên, tuổi mười bảy, mười tám, mười chín, hai mươi có mặt ngày càng nhiều trong đơn vị. Tuổi thanh niên mới lớn rất hăng hái, không sợ gian nguy, ai cũng muốn ra trận lập công trở thành dũng sỹ diệt Mỹ Ngụy. Tuy vậy, sức mạnh  dẻo dai, bền bỉ và kinh nghiệm  chiến đấu còn có những hạn chế nhất định.
Nhưng đơn vị tiểu đoàn tôi đã lập được nhiều chiến công ở sông Chiêu, Cà Tum, Mỹ Mốt, tham gia đánh tan cuộc càn “Vượt biên” của hơn chục vạn quân Mỹ Ngụy, chặn địch không cho chúng tiến sâu vào đất bạn. Tham gia diệt và bắt sống hàng chục ngàn quân địch, mở ra vùng giải phóng Campuchia rộng lớn, nối liền với vùng giải phóng Nam Lào, tạo ra hành lang phía tây con đường vận tải chiến lược Trường Sơn, tiếp tế hiệu quả cho quân dân miền Nam và cách mạng Campuchia và Lào.
Trong năm 1971, trên đất bạn Campuchia, chúng tôi còn lập chiến công ở Suông Chúp, Si Nun, Đầm Be, Oát Thơ Mây và đang chuẩn bị lực lượng tiến về đất mẹ miền Nam thân yêu. Đơn vị tôi nhận thêm nhiều quân, từ ngoài Bắc vào và từ các đơn vị trên đất bạn Lào, đất bạn Campuchia chuyển đến. Tôi được gặp lại nhiều tân binh thời tôi làm nhiệm vụ lấy quân của tỉnh Vĩnh Phú, trong số đó có anh Hiền, là người phường Phong Châu, thị xã Phú Thọ mà tôi vẫn đinh ninh rằng anh ta không có tên trong danh sách nhập ngũ tháng 6 năm 1968.
Nhận ra tôi, anh Hiền chạy lại ôm lấy tôi, tôi cũng ôm chặt lấy anh như người anh em thân thiết. Anh Hiền kêu lên:
- Thủ trưởng Nguyễn Đức Chân phải không? Tôi cũng được đi B dài theo đề nghị của anh. Cứ tưởng anh ở ngoái Bắc, ai ngờ lại được gặp anh ở đây.
- Mơ được ước thấy mà. Ngày xa anh, ta vẫn hẹn gặp nhau tại mặt trận B2 mà, anh được vào đơn vị của tôi rồi.
- Thế là tôi được toại nguyện còn gì nữa. Anh cho tôi được cầm súng trực tiếp chiến đấu nhé. Tôi xin anh đấy!
Tôi cười:
- Ở với nhau đã, chưa xuống đơn vị chiến đấu được, cần phải ưu tiên cho các chiến sỹ trẻ. Anh về tiểu đoàn bộ, làm chiến sỹ nuôi quân, ở với tôi một thời gian nữa, sau xuống đơn vị chiến đấu cũng không muộn đâu. Vẫn còn ối thời gian để lập công mà!
Khi ấy, tôi đã làm chính trị viên tiểu đoàn, thay cho đồng chí chính trị viên lên làm phó chủ nhiệm chính trị trung đoàn.
Tối hôm đó, tôi gọi anh lên mắc võng ngủ cùng trong một căn nhà nền âm, lợp lá trung quân, có hầm hào để tránh B52 và máy bay ném bom tọa độ. Võng tôi nằm mắc song song với võng anh, khi nằm yên tôi hỏi anh:
- Mấy năm vừa qua, anh ở đơn vị tăng gia của sư đoàn bộ làm được gì và có bao giờ đánh giặc không?
- Chủ yếu là trồng rau xanh cung cấp cho bộ đội, phải chuyển theo đơn vị luôn. Khi Mỹ mở cuộc càn “Vượt biên”, chúng đánh vu hồi vào phía sau, đơn vị tăng gia cũng phải chiến đấu. Tôi đã dùng súng AK đánh địch, diệt được 5 tên Mỹ, được tặng Danh hiệu dũng sỹ diệt Mỹ. Về sau đơn vị chuyển đến Sa Lông gần bờ sông Mê Công, không còn giáp mặt trận nữa.
Tôi khen anh Hiền:
- Thế là anh hơn tôi rồi, tôi không có danh hiệu gì, tiểu đoàn diệt hơn ngàn tên địch, trong đó có hàng trăm tên Mỹ. Tất cả thành tích tôi đều nhường anh em bình bầu danh hiệu, còn tôi không nhận một danh hiệu gì.
Anh Hiền nghe không nói gì, có lẽ anh đang suy nghĩ về tôi và về anh em trong đơn vị. Nhớ về ngày anh Hiền nhập ngũ tôi hỏi anh:
- Ngày ấy, theo danh sách gọi tên, tôi chỉ thấy cái tên Nguyễn Văn Hiên, chứ không phải là Nguyễn Văn Hiền. Nhưng sao anh Hiền lại có giấy gọi nhập ngũ, ở phường anh  có người nào trùng họ, tuổi tên là Hiên không,
- Có một người tên là Nguyễn Văn Hiên, cũng sinh năm 1936, nhà hắn ở trong tổ 14. Hắn là người nhà của phường đội trưởng. Hắn đã có vợ và 3 con và đi làm ăn xa, chẳng mấy khi về nhà. Khi có giấy báo nhập ngũ, thiếu người chắc họ chuyển sang gọi tôi.
- Khi tôi gọi tên Nguyễn Văn Hiên, anh không trả lời là đúng. Lúc ấy, tôi mắng anh là “điếc à”, anh có giận tôi không?
- Thực ra tôi chẳng chú ý, tôi chỉ chăm chắm nghe tên mình thôi. Được giấy gọi nhập ngũ là tôi vui mừng, thế thôi.
- Tôi đã phát hiện cái tên người nhập ngũ tên là Hiên, ai đã thêm dấu huyền vào thành ra tên là Hiền, gọi anh nhập ngũ. Chứ anh, không có tên trong danh sách nhập ngũ của Thị đội Phú Thọ trao cho.
Anh Hiền không tỏ thái độ bất bình gì, vui vẻ nói:
- Thủ trưởng đã cho tôi nhập ngũ rồi còn gì. Tôi đã đi bộ đội hơn hai năm, vào chiến trường B2 và đã lập công, trở thành dũng sỹ diệt Mỹ. Tôi xin chân thành cảm ơn thủ trưởng đã quan tâm đến tôi.
Thấy anh an tâm và vui vẻ, tôi phân trần:
- Ừ, thì mình nhắc lại cái điều mình nghi ngờ để được hiểu rõ. Sau ngày anh nhập ngũ,  tôi nhận nhiệm vụ đưa quân vào B2 và ở lại chiến trường chỉ huy chiến đấu. Song cứ nghĩ đến hoàn cảnh của anh, nhà quá khó khăn, bố già, vợ mới sinh cháu, với năm đứa con còn nhỏ tuổi thì làm gì mà đủ ăn.
- Thủ trưởng ơi! Đã có nhà nước lo rồi, tôi đi B dài, tiền trợ cấp cho mỗi đứa 12 đồng, bố già có con đi B được trợ cấp 10 đồng nữa. Như vậy, nhà tôi được lĩnh cả thẩy là 70 đồng, tạm đủ sống. Số tiền ấy cũng bằng số lương của người sỹ quan có cập bậc trung úy được lĩnh ở nhà.
- Có được như vậy thì tôi cũng đỡ lo cho anh và cả cho tôi. Từ ngày đi vào chiến trường B2, tôi viết có đến 10 lá thư về nhà, mà sao chưa nhận được một lá thư nào. Tôi cũng cảm thấy không an tâm, vợ tôi hay ốm đau, đứa con út thì sài đẹn. Anh em trong đơn vị nhận được thư nhà thì truyền tay nhau đọc, họ cũng cho tôi đọc nhiều lá thư riêng. Phần nhiều thì động viên anh em cán bộ chiến sỹ hăng hái lập công, đánh cho  “Mỹ cút Ngụy nhào” như lời Di chúc Bác Hồ căn dặn. Anh Hiền mà có thư thì cho tôi xem với nhé!
- Vâng, nhưng đã hơn hai năm nay, tôi cũng không nhận được một lá thư nào. Bố tôi đi lính Tây mà cũng chỉ biết đọc, biết viết đôi dòng quốc ngữ; còn vợ tôi thì ít học, biết vài ba chữ a, b, c thì viết thư thế nào được. Các cháu còn nhỏ chưa biết viết thư, mà cô giáo, thầy giáo có dạy chúng nó viết thư đâu mà viết.
Nghe anh Hiền nói bố đi lính Tây, tôi mới thực sự hoài nghi. Năm xưa tôi nghe anh nói bố anh tham gia Đội tự vệ thành Hoàng Diệu kia mà. Tham gia kháng chiến chống Pháp xâm lược những chín năm mới trở về nhà.
Tôi ngỡ ngàng hỏi:
- Bố anh đi lính Tây bao giờ?
- Bố tôi đi lính Tây, từ trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc. Ở nước Pháp hơn mười năm mới được về nước, trở về nhà lấy vợ và sinh ra tôi mà. Ở Pháp về, ông có ít tiền, dòng họ xúi ông ra tranh cử chức lý trưởng làng. Ông chạy chức từ tri huyện, từ chánh tổng và hội đồng tộc biểu. Ông không trúng cử và thành kẻ khuynh gia bại sản, phải bán nhà. Sau đó mẹ tôi bị bệnh chết, mấy đứa em tôi, bị bệnh tả lần lượt theo mẹ tôi ra nghĩa địa. Bố tôi chán cảnh quê Hưng Yên, đưa tôi lên phố Bạch Mai, Hà Nội kiếm sống. Từ ấy, tôi thành kẻ tha hương.
- Bố anh làm việc gì ở Hà Nội để kiếm sống và nuôi anh?
- Bố tôi làm nhiều nghề, như làm phu xe, thợ hồ và cả nghề giúp việc vặt. Hai bố con, sống căn nhà lá của ông bà Phán Sinh trong phố cho thuê.
Tôi nằm im, tai vẫn nghe thấy tiếng bom B52 nổ rần rật rung chuyển mặt đất và pháo từ căn cứ Si Nun bắn nổ ùng oàng về phía rừng xa. Tôi tò mò hỏi anh:
- Chắc là anh được chứng kiến ngày Cách mạng tháng Tám sục sôi tại Hà Nội?
- Lúc ấy tôi mới chín tuổi, nhìn thấy quân Nhật phải bó tay, các quan và binh lính ta phải đầu hàng cách mạng. Cờ đỏ sao vàng bay rợp trời, biểu ngữ giăng khắp phố, khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh”, “Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh”, “Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm”, người tuần hành đông chật đường. Đông đảo nhân dân các nơi đổ về Hà Nội biểu tình, khí thế lắm anh ơi. Trưa mồng 2 tháng 9, tôi được bố tôi cho đi dự Lễ công bố Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Tôi được nhìn thấy Lãnh tụ Hồ Chí Minh, đứng trên lễ đài đọc Tuyên ngôn Độc lập và chiếc xe con màu đen bóng nhoáng chở Người chạy trước mặt.
- Khi ấy bố anh có tham gia công việc gì không?
Anh Hiền nói với giọng tự hào:
- Bố tôi đã tham gia cách mạng trước cả ngày khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội. Ông tham gia hoạt động trong đội vũ trang khu phố Bạch Mai. Ông huấn luyện tự vệ sử dụng súng Tây, súng Nhật và đi suốt ngày đêm. Tôi còn bé, được ông bà Phán Sinh trông nom, cho ăn uống, ngủ nghê.
Kháng chiến bùng nổ, tôi phải theo gia đình ông Phán Sinh chạy tản cư. Nhưng đến làng Đường Lâm, Sơn Tây gặp máy bay địch oanh tạc, mọi người chạy tan tác cả, tôi còn bé phải liều mạng chạy vào trong đồi. Người dân chết rất nhiều, cũng có nhiều bộ đội bị trúng đạn hy sinh trên đường. Ông bà Phán Sinh cũng không biết chạy lối nào, tôi không còn biết nữa. Có khi ông bà đã chết trên đường rồi, chẳng biết đâu mà tìm.
Tôi bị thấc lạc từ khi ấy, có người dân đưa tôi đi lên tận làng Cầu Mô hẻo lánh toàn núi đồi, lên cao nhìn thấy dòng sông Thao nước đục ngầu. Tôi sống trong gia đình ông Bá Ất hàng ngày tôi phải chăn hai con trâu, một trâu đực, một con trâu cái và làm các công việc vặt trong nhà như xay lúa, giã gạo. Có làm vậy, người ta mới cho ăn cơm. Không làm người ta đánh, còn chửi bới không cho ăn. Tôi mới mười tuổi đầu, quần áo không đủ mặc, đêm rét không có chăn phải chui vào ổ rơm.
Nhiều đêm tôi khóc, gọi bố ơi, bố ở đâu về đưa con đi với. Nhưng chỉ thấy gió cùng sương và trời nắng trời mưa tôi vẫn thui thủi chăn trâu ở trên đồi. Đồi cao chỉ nhìn thấy trời mây, xa xa về phía nam phía bắc nhìn thấy toàn núi non một màu xanh thắm.
Tôi vẫn nghe anh Hiền nói mà thương anh quá. Anh có một  tuổi thơ quá khổ vì chiến tranh, loạn lạc, không được sống yên vui với bố mẹ, gia đình như tôi. Thỉnh thoảng tôi vẫn hỏi anh, để anh biết là tôi vẫn thức nghe chuyện:
- Thế là anh sống mãi trong nhà Bá Ất à?
- Không, khổ quá tôi đã trốn đi. Tôi đi ra bờ sông Thao, thấy thuyền về xuôi, tôi lên thuyền xin họ cho tôi về Hà Nội. Người ta bảo Hà Nội giặc Pháp chiếm đóng rồi, chỉ có thể đưa tôi về thị xã Phú Thọ, nơi ấy giặc Pháp càn qua nhưng bọn chúng vừa rút rồi. Tôi nói chuyện có bố đi đánh Pháp, mẹ chết rồi, chạy tản cư bị thất lạc, muốn đi tìm bố. Người ta chở tôi về thị xã Phú Thọ và tôi sống từ đó cho đến ngày nhập ngũ.
- Ở thị xã Phú Thọ, tôi được một gia đình nuôi. Gia đình nuôi tôi, có quan hệ họ hàng với người lái thuyền trên sông Thao. Tên anh là Nghĩa thường chèo thuyền đi tiếp tế cho bộ đội trên Tây Bắc. Anh ta có bà chị họ tên là Tín không sinh được con, chồng chết sớm nên bà nuôi tôi. Bà Tín thương tôi lắm, nuôi tôi và sau này bà ấy lấy vợ cho tôi đấy. Nhưng bà Tín cũng không thọ lâu, cuối năm 1954 bà ấy chết khi tuồi đời mới hơn năm mươi. Nhà cửa đất đai bà để lại cho vợ chồng tôi sinh sống đến giờ.
- Bao giờ thì anh gặp lại bố mình?
- Ngày hòa bình lập lại năm 1955, tôi may mắn gặp bố mình ngay tại thị xã Phú Thọ. Bố tôi đang đứng mua hàng thì tôi nhận ra. Ông vẫn ăn mặc quần áo bộ đội, có gắn sao, trông ông già đi nhiều. Năm đó, ông đã 58 tuổi rồi, ông là một trong những người già nhất trong lực lượng vũ trang lúc ấy. Năm sau ông xin về phục viên, cấp trên chuẩn y và ông về ở với gia đình tôi từ đó.
- Ngày về bố anh chức vụ gì?
- Nghe nói ông là Trung đội bậc trưởng.
- Lúc ấy, ta chưa có quân hàm, năm 1958 ta mới phong quân hàm cho cán bộ, chiến sỹ.
Khi có chế độ phong quân hàm, phiên ngang sang ông có cấp bậc thiếu úy, là sỹ quan quân đội nhân dân Việt Nam - Tôi giảng giải cho anh Hiền hiểu.
- Ông về không có chế độ lương, nhưng ông có tiền trợ cấp thương binh và về sau ông còn có tiền nghỉ mất sức, mỗi tháng được trợ cấp 25 đồng.
Một lúc sau, anh Hiền lại nói chuyện về người bố mình:
- Trong chiến đấu, ông được thưởng hai Huân chương Chiến sỹ do Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký. Ông làm khung bằng gỗ, treo hai cột giữa nhà. Tôi thường ngắm nghía và đọc đi đọc lại những lời ghi trong những tấm Huân chương ấy. Một chiếc ghi ông lập công tại mặt trận bảo vệ thành Hà Nội, một chiếc khác thì ghi ông lập công tai mặt trận bảo vệ Chiến khu Việt Bắc. Về sau những cán bộ chỉ huy, thấy bố tôi già, chuyển về phụ trách đơn vị tăng gia, phần nhiều là thương binh. Ngày hòa bình, ta tiến hành cải cách ruộng đất, bố tôi tham gia làm cán bộ một đoàn cải cách ở Thanh Ba, Phú Thọ.
- Gặp lại bố mình, anh có nói về nỗi khổ của mình khi chạy tản cư lên miền núi?
- Có. Nhưng bố tôi không khóc. Chỉ nói một câu mà tôi còn nhớ: “Thế là con lại phải chịu thất học như bố rồi, con ơi”. Nói vậy, bố tôi coi thường gian khổ, hiểm nguy, nhưng ông sợ nhất là thất học.
- Anh có bao giờ được đi học?
- Ngày ở nhà ông Phán Sinh, tôi đã đi học cùng trẻ con trong phố, biết đọc biết chữ rồi. Sau này tôi có đi học thêm các lớp bổ túc văn hóa nên đã đọc thông viết thạo và tôi đã có bằng tốt nghiệp cấp I.
- Anh có bao giờ được nghe tin tức về ông bà Phán Sinh không?
- Không nhận được tin tức gì về ông bà ấy. Bố tôi bảo có đi hỏi thăm cũng không nắm được tin tức gì. Nghe tin rất nhiều người ở Hà Nội đi tản cư đã chết do bom đạn của giặc Pháp, trong đó có nhiều trí thức như vợ chồng ông Phán Sinh.
Những đêm trong chiến trường, có những giây phút được nằm bên nhau, kể cho nhau nghe về hoàn cảnh gia đình, những kỷ niệm cuộc đời là rất hiếm hoi. Ngay sáng hôm đó, tôi nhận nhiệm vụ chỉ huy đơn vị tham gia đánh địch vào căn cứ Si Nun. Trận ấy, quân ta tiêu diệt hàng nghìn tên, giải phóng một vùng biên giới rộng lớn ở hai bên Campuchia và Việt Nam.
Năm 1972, anh Hiền làm nhiệm vụ  nuôi quân, hàng ngày nấu cơm nước phục vụ ban chỉ huy và các cán bộ, chiến sỹ trong tiểu đoàn bộ. Anh đã cùng các chiến sỹ nuôi quân bắt sống được 25 tên Ngụy, khi chúng đang bỏ chạy khỏi căn cứ. Ấy là khi quân ta nã pháo vào căn cứ An Lộc và vào sân bay Téc Ních, bọn giặc hoảng sợ bỏ chạy về Sài Gòn. Chúng đi từng đám, luồn vào trong các làng và trong sở cao su, phía sau các mũi tiến công của quân ta. Khi ấy các chiến sĩ nuôi quân đem cơm nước ra trận địa, đã đột kích chúng và anh em đã bình tĩnh gọi hàng. Trong tình trạng hoảng loạn, gặp quân giải phóng kêu gọi, chúng đã ngoan ngoãn tuân theo, nộp súng đạn cho các chiến sỹ ta.
Đó là thành tích không nhỏ, chặn được lực lượng địch tập trung về phía Chơn Thành, co cụm lại trên đường 13, bảo vệ phòng tuyến phía bắc Sài Gòn. Trận ấy, tôi đã đề nghị Bộ Chỉ huy Sư đoàn 7 tặng thưởng Bằng khen cho anh Hiền.
Trên chiến trường miền Nam, sau tháng 5 năm 1972, địch đã lấy lại sức, tung các lực lượng chủ lực ra chặn lại các cuộc tiến công của quân ta. Tại miền Đông Nam Bộ, quân ngụy đã tập trung quân dù, thủy quân lục chiến, quân của các sư bộ binh số 5, số 25, số 18 ngụy về hướng đường 13. Quân Mỹ cũng tập trung các đơn vị chủ lực và nhất là không lực B52 đánh phá dữ dội, ném hàng chục vạn tấn bom xuống các trận địa của quân ta.
Tại trận địa chặn địch phía nam An Lộc, B52 rải bom liên tục, có ngày chúng đánh đến 20 lượt, quân ta bị thương vong rất nhiều. Bộ đội ta rất dũng cảm, can trường nhưng cũng chỉ đủ sức chống trả. Tôi đang lo, không biết đơn vị mình có hoàn thành nhiệm vụ không. Thì vào một buổi chiều, tôi bị bom B52 đánh trúng hầm, đất đá vùi lấp, may có anh Hiền và các chiến sĩ nuôi quân ra kịp thời đào bới. Họ lôi tôi và những chiến sĩ bị nạn ra khỏi hầm. Thấy tôi lấm lem, bị ngất xỉu, chỉ còn thoi thóp thở, anh Hiền đã nhanh chóng cùng các chiến sĩ khiêng tôi và anh em bị thương khác vào trạm quân y cấp cứu kịp thời, không thì tôi và ba bốn anh em nữa đã chết ngạt trong căn hầm bị sập rồi.
Tôi được biết đơn vị Tiểu đoàn 26 bị thương vong khá nhiều trong cuộc tiến công vào căn cứ An Lộc và chặn đánh các đơn vị Mỹ ngụy phản kích tái chiếm thị xã. Trong danh sách cán bộ bị thương có một cán bộ trung đội trưởng tên là Nguyễn Văn Hiền, sinh năm 1936, quê quán phường Phong Châu thị xã Phú Thọ, bị thương nặng đã được đưa đi điều trị tại bệnh viện 22 của Miền. Tôi đọc biết tên anh trong danh sách những người bị thương nặng mà buồn, nhưng cũng mừng là anh Hiền còn sống. Tôi lặng yên trong giây phút cầu mong cho anh Hiền mau lành vết thương được trở về quê hương.
Sau này, tôi được biết đơn vị Tiểu đoàn 26  đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh địch ở ngã ba Thanh Bình. Đã chặn được địch, buộc chúng không thực hiện âm mưu lấn chiếm thị xã Bình Long, góp phần bao vây quân ngụy, không cho chúng phản kích đánh chiếm vùng giải phóng. Anh Hiền là tổ trưởng tổ nuôi quân, được chỉ huy Tiểu đoàn 26, đề bạt lên làm cán bộ chỉ huy Tiểu đội trưởng và sau đó là cán bộ Trung đội trưởng chỉ huy Trung đội 1 thuộc Đại đội 2 của Tiểu đoàn 26. Được một thời gian hơn 3 tháng thì bị thương nặng, viên đạn trúng vào bụng, bác sỹ ta điều trị phải cắt đi một đoạn ruột và đưa về tuyến sau. Trận cuối cùng, anh và đơn vị đã lập công to, đánh tan một đại đội địch, loại khỏi vòng chiến đấu gần một trăm tên. Đơn vị Đại đội 2 được đề nghị Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Hai và anh Nguyễn Văn Hiền cũng được đề nghị thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.
Cuối năm đó, Ban Cán bộ cử người lên thăm cán bộ chiến sỹ đang điều trị tại Bệnh viện 22, nhưng anh Hiền đã được bệnh viện chuyển ra miền Bắc điều trị và an dưỡng. Tôi được nghe báo cáo rất mừng, cầu mong cho anh Hiền ra Bắc an toàn và trở về nhà được bình an.
Hơn hai năm sau, quân dân ta thực hiện thắng lợi cuộc Tổng tiến công đầu năm 1975 thắng lợi. Miền Nam hoàn toàn được giải phóng, đất nước thống nhất. Mọi người nhận được rất nhiều thư nhà, mà tôi không nhận được thư của gia đình. Tôi nghĩ rằng, nhà tôi đã có chuyện gì xảy ra rồi, chắc là lớn lắm. Sau đó tôi nhận được thư của người em con ông chú họ báo tin: vợ tôi lâm bệnh đã chết ba năm rồi, đứa con trai út đã không nuôi nổi. Bố mẹ tôi thì già yếu quá đang mong chờ tôi trở về, hai đứa con gái đang đi học trường cấp I trong xã ngày nào cũng ra cổng làng đón bố.
Tôi nhận được tin, người đau đớn như bị thương nặng lần thứ hai. Tôi không thể khóc, mang thư lên báo cáo Chính ủy Sư đoàn Nguyễn Hùng, ông hỏi tôi trước khi đi B, ở đơn vị nào. Tôi báo cáo ông, ở đơn vị Tỉnh đội Vĩnh Phú. Ông giải quyết cho tôi trở về đơn vị cũ. Tôi được lên máy bay từ Tân Sơn Nhất ra sân bay Gia Lâm. Từ sân bay, tôi ra bến xe tìm ô tô khách trở về nhà.
Về nhà trông thấy ngôi nhà gỗ lợp lá cọ đã gần sụp đổ, bố mẹ già yếu, các con thơ xanh xao vì bệnh tật, tôi đã không cầm nổi nước mắt. Tôi ngồi khóc vợ và con trai út trong nhà, chỉ khi anh em trong họ và hàng xóm kéo đến hỏi thăm tôi mới bình tâm lại. Những người anh em nội ngoại thân thiết khuyên tôi lấy vợ kế để có người đỡ đần bố mẹ già, nuôi dạy các con còn nhỏ. Tôi nói như cầu xin:
- Tôi mới về, nhận được tin vợ và con mất, lòng còn đau đớn vô cùng. Nay cho tôi được bình tâm lại đã sẽ tính chuyện ấy sau. Việc trước mắt trở về đơn vị cũ nhận công tác, sửa sang lại nhà cửa cho đỡ dột nát. Thời gian trôi qua, bố mẹ nguôi ngoai sầu muộn, mừng con trai được trở về, quên đi nỗi đau con cháu mất. Lúc ấy, bố mẹ tôi và anh em họ mạc thu xếp cho tôi đi bước nữa, cũng chưa muộn mà.
Ngày ấy tôi là Trưởng  Ban cán bộ của Sư đoàn 7 đã được phong cấp Trung đoàn bậc phó, ra Bắc tôi được phiên quân hàm cấp Thiếu tá. Tỉnh Vĩnh Phú đang thiếu cán bộ, trên điều tôi về làm Phó Chính ủy tỉnh đội, thay cho đồng chí Thiếu tá Nguyễn Văn Thạc về nghỉ hưu.
Tôi về được khoảng hai tháng, thì vào một buổi chiều, anh Hiền nghe tin tôi về Tỉnh đội, từ phường Phong Châu thị xã Phú Thọ đạp xe xuống Việt Trì thăm tôi. Tôi bảo anh ở lại Tỉnh đội nghỉ ngơi nói chuyện, ngày mai thong thả hãy về. Anh Hiền nghe tôi ở lại và chúng tôi lại có dịp nằm ngủ bên nhau.
Anh Hiền vẫn gọi tôi là thủ trưởng, tôi ân cần khuyên anh:
- Tôi với anh cùng tuổi mà, anh lại sinh trước tôi sáu tháng nên anh là anh tôi. Khi anh ở trong quân ngũ thì anh gọi tôi là thủ trưởng là đúng vì tôi phụ trách đơn vị. Còn khi ra quân thì anh gọi tôi là chú, còn tôi gọi anh là bác. Mọi người trong nhà, anh em trong họ, ngoài làng cứ theo thế mà gọi theo. Chúng ta đã gắn bó với nhau, một thời sống chết cùng nhau thì tình cảm khác chi anh em ruột thịt. Anh còn có công cứu tôi thoát chết, ơn đó tôi chẳng bao giờ quên. Tôi phục vụ quân đội đến tuổi về hưu thì về nghỉ như anh, còn mang chức tước gì nữa mà gọi thủ trưởng, ta cứ gọi nhau bằng anh em, bằng chú bác, hay là cùng xưng tôi cho nó bình đẳng và dần thành quen đi nhé.
Đêm ấy, anh kể cho tôi nghe về những ngày chốt chặn đường 13. Đơn vị thương vong nhiều, thiếu quân, anh đã xung phong ra chiến đấu. Quân Ngụy cũng tập trung xung lực và hỏa lực phản kích rất mạnh, mỗi ngày chúng tổ chức hơn chục lần phản kích. Trận đầu làm Tiểu đội trưởng Tiểu đội 1 chỉ huy 11 anh em, ở trong đội hình đại đội. Tiểu đội anh Hiên ở hướng chính diện. Địch tập trung hỏa lực gồm  pháo 105 ly, đạn DKZ, đạn M79, cối 81 bắn như mưa vào trận địa ta. Lính Ngụy thì lăm lăm AR15 và mang lựu đạn US hò hét xông lên. Chúng tiến theo đội hình hàng ngang, hoặc hình mũi tên, nhiều hình mũi tên. Tiểu đội anh bình tĩnh đánh lui từng đợt phản kích. Chúng không phá được tuyến chốt chặn lại lui về  phía sau, gọi máy bay đến bắn phá. Cứ như thế hàng tháng trời, quân ta vẫn kiên cường bám trụ giữ vững trận đia.
Cán bộ bị thương vong nhiều, anh Hiền lên thay làm trung đội phó và sau thay làm trung đội trưởng và được kết nạp Đảng. Anh là một trong những cán bộ đảng viên kiên cường giữ vững trận địa chốt chặn. Anh đã tiêu diệt hàng chục tên Ngụy, bắn cháy một xe tăng. Chính vì thành tích ấy, anh Hiên đã được thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba.
Anh bị thương trong trường hợp tổ chức phản kích vào đội hình quân địch. Bọn địch tưởng quân ta chỉ dựa vào hệ thống hầm hào phòng thủ sâu theo từng cấp chứ không dám tiến công. Không ngờ, anh Hiền cho bộ đội phản kích địch lúc trời vừa tối, đánh ngay vào đội hình một đại đội địch, có hai xe tăng yểm hộ, anh bắn cháy chiếc đầu tiên, đồng đội của anh bắn cháy chiếc thứ 2 và tiêu diệt gần một trăm tên Ngụy. Sau đó anh cho bộ đội lui về vị trí chốt chặn. Trận ấy, anh Hiền bị một viên đạn AR15 bắn vào bụng, rất may trạm cấp cứu tiền phương có điều kiện mổ xẻ, giúp anh thoát chết.
Không ngờ, một người xã viên hợp tác xã thủ công lớn tuổi vào bộ đội khi ở cương vị chỉ huy trung đội mà có cách đánh táo bạo quá chừng. Tôi trầm trồ khen ngợi:
- Anh giỏi quá! Tôi đã từng chỉ huy chốt chặn mà chưa dám tổ chức phản kích địch kiểu như anh.
Anh Hiền cười:
- Thời cơ đến mà. Bọn địch nghĩ rằng quân ta không dám tiến công, chủ quan không phòng bị, trong giờ phút đó ta tổ chức phản công ngay thì thắng. Ở chiến trường, mỗi chiến sỹ, mỗi đơn vị đều biết cách chủ động tiến công địch thì ta mới mau chóng giành thắng lợi hoàn toàn như ngày hôm nay.
Đêm ấy, tôi nói chuyện riêng về sự mất mát của mình khi trở về nhà: vợ chết, con trai út mất, nhà cửa sắp đổ, bố mẹ già yếu, hai đứa con còn nhỏ quá. Người nhà đang giục phải lấy vợ kế để còn giúp đỡ gia đình, nhưng tôi chưa tìm ra mối nào. Anh Hiền nghe chuyện nhà tôi, nói lời chia buồn và hứa sẽ tìm người cưới vợ cho tôi.
Anh đưa ra tiêu chuẩn:
- Người phụ nữ thời nào thì cũng phải có tứ đức “công dung ngôn hạnh” và phải có đức tam tòng nữa. Chồng đang sống, con đang sống mà nó chẳng trông nom thì là nỗi khổ tầy đình đấy.
Tôi nói như thế là phong kiến, khắt khe với phụ nữ quá. Anh Hiền thì bảo các cụ nói chẳng mấy khi sai. Anh bảo lấy vợ cho tôi, người đó phải hợp với hoàn cảnh của tôi, người vợ mà không có đạo đức, lại lăng loàn thì sẽ gặp muôn vàn khó khăn trong cuộc đời.
Anh Hiền nói chắc như đinh đóng cột:
- Anh biết rồi đó. Việc lấy vợ hệ trọng lắm, với anh đi bước nữa lại càng hệ trọng. Không được chủ quan, đánh địch mà không xem xét kỹ thì chắc thua, lấy vợ mà không xem xét kỹ thì hỏng cuộc đời và khổ nhục là cái nhãn tiền đấy.
Tôi cười vang:
- Thế thì tôi hoàn toàn nhờ anh, người mà anh tìm cưới vợ cho tôi chắc là hoàn hảo lắm. Nhưng riêng tôi thì không nên yêu cầu cao quá, tôi đã là người góa vợ rồi, còn đâu tuổi xuân mà kén cá chọn canh.
Anh Hiền lúc ấy mới nhớ ra và phô chuyện:
- Tôi về lại sinh được một cháu trai nữa là sáu. Các cháu trên nhà đều ngoan, hai đứa đầu đã vào học đại học ở Hà Nội. Ơn trời nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, con cháu ta mới được đi học, không mất tiền, lại được tiền học bổng. Sướng quá anh Chân ơi, anh nên lấy vợ kế mau lên, còn kịp đẻ con nuôi con lớn, lần khân thì cha già con mọn cũng là điều khổ đấy.
Tôi hỏi bố anh còn khỏe không, anh Hiền trả lời:
- Còn rất khỏe. Hôm tôi được giải ngũ trở về, tôi mở bụng cho bố tôi xem vết đạn. Bố tôi bảo: “Cũng bình thường thôi mà, chưa đủ để đón con tôi về chầu giời”, và ông cười rất vui. Thì ra những người lính như bố tôi, họ vẫn coi thường sự bị thương và sự chết.
- Vợ anh có khóc khi nhìn thấy anh bị thương trở về không?
- Cô Thảo vợ tôi ấy à, nhìn thấy tôi bị thương ở bụng thì nói: “Bố cu đi đánh trận mà để thằng giặc bắn trúng bụng thì còn ra cái thá gì, thân bố cu chẳng khác con bù nhìn rơm cắm trên đồng”. Vợ tôi nói đùa thế thôi nhưng đêm đến ôm tôi chặt lắm.
Hai đứa chúng tôi cùng cười khúc khích. Tôi chưa lên thăm gia đình anh Hiền  nhưng nghe anh Hiền kể đã rất thích tính ông bố và tính người vợ của anh.
Hơn một tuần sau, anh Hiền lại đạp xe xuống cơ quan Tỉnh đội báo cho tôi biết đã tìm được mối cho tôi rồi. Đó là cô giáo dạy toán cấp II, có người yêu đi bộ đội hy sinh. Cô ấy tên là Đặng Thị Lý sinh năm 1950, tuổi Canh Dần, năm nay 27 tuổi, anh em đằng vợ của anh Hiền. Vợ anh Hiền - chị Thảo làm mối cho tôi và giới thiệu tôi là anh em kết nghĩa với anh Hiền. Nói rõ tên tôi ấy là Nguyễn Đức Chân, đã lấy vợ, có ba con, nhưng vợ lâm bệnh nặng chết cách đây 3 năm, đứa con trai nhỏ bị bệnh đã  mất, còn 2 đứa con gái đang ở với ông bà nội. Anh Chân đang làm việc tại cơ quan Tỉnh đội Vĩnh Phú...
Mấy ngày sau, tôi lên thăm nhà anh Hiền ở phường Phong Châu. Ông Đức bố anh Hiền tiếp tôi, chị Thảo lần đầu tôi gặp niềm nở nói:
- Nghe nhà tôi nói, anh là cán bộ lấy quân, đã quyết định cho nhà tôi vào bộ đội. Anh đã giúp đỡ nhà tôi cả ở ngoài Bắc và trong Nam và đã nhận nhà tôi là anh em kết nghĩa...
Bố anh Hiền nói vui:
- Thế là tôi đã có hai thằng con trai, đều là dũng sỹ diệt Mỹ Ngụy, lập công lớn và đều là thương binh. Thằng Hiền là anh thằng Chân, nhưng thằng Hiền số không bằng thằng Chân. Thằng Chân còn tiến trên con đường công danh, thằng Hiền cuối đời được phong lưu là nhờ vào các con...
Thấy bố anh Hiền nói về số phận, tôi hỏi ông:
- Anh Hiền có làm mối cho con cô Lý, bố thấy nhân duyên hai con thế nào?
- Cực tốt. Thế thì vui quá rồi, nhưng sợ cô Lý chê con nhiều tuổi, sức yếu do bị thương.
Chị Thảo cho biết:
- Tôi đã giới thiệu về lai lịch của chú rồi. Lúc đầu cô ấy chưa ưng đâu, nhưng sau cô ấy nghĩ thế nào lại nhận lời. Bố Đức xem số cho chú Chân và cô Lý lấy nhau thế nào, cô ấy đã được nghe. Bố vừa nói lại cho chú nghe đấy, chú có bằng lòng không?
- Em được anh chị và bố đây giới thiệu còn gì nữa mà em không bằng lòng. Có điều còn về phía gia đình người ta, hơn nữa cô Lý còn chưa được gặp mặt em, được gặp rồi có thay đổi gì không. Bốn mươi tuổi đầu, em còn kén chọn gì nữa, người ta nói rổ rá cạp lại, còn mong gì tròn trĩnh.
Sợ tôi còn điều gì băn khoăn, chị Thảo lại nói:
- Cô Lý chỉ có người yêu đi chiến đấu hy sinh, nhưng chưa cưới nhau. Cưới chú là cưới lần đầu, chú và gia đình phải tổ chức long trọng không thể làm đơn giản được.
Tôi chưa kịp trả lời thì anh Hiền đã dẫn cô Lý đến. Cô Lý chào tôi trước:
- Chào anh! Anh lên bao giờ?
Tôi đưa tay lên chào cô và trả lời:
- Anh vừa lên mà, sau tám năm mới được trở về thị xã Phú Thọ.
- Có gì khác không anh?
- Quang cảnh thì vẫn như xưa, nhưng nhiều cái khác: người già thì già đi, người trẻ thì lớn lên, người về ở thị xã tăng lên, nên đông vui hơn trước nhiều.
- Anh có thích về ở thị xã Phú Thọ không?
- Có, nhưng chưa có ai đưa anh về.
- Anh chị Hiền Thảo đưa anh về đó, còn chờ ai đưa nữa.
Cả nhà nghe, ai cũng cười. Hôm đó 6 đứa con của anh chị Hiền Thảo đi học và đi nhà trẻ đều nghỉ chủ nhật nên càng đông vui. Anh chị Hiền Thảo, cô Lý và mấy cháu lớn phải tất bật giết gà, mua thịt về làm món ăn, nấu nướng, bày biện đến trưa mới được hai mâm cơm. Nhà chưa có đủ bàn ghế phải trải chiếu xuống đất ngồi cho rộng rãi. Bữa cơm hôm đó thật vui, anh Hiền và tôi nhắc lại biết bao kỷ niệm sống với nhau ở chiến trường miền Đông Nam Bộ. Mọi người trong gia đình nghe ai cũng vui vẻ và cảm phục tinh thần chiến đấu và tình cảm cao quý của hai chúng tôi và nhiều cán bộ chiến sỹ quân giải phóng.
Ăn cơm xong, cô Lý dẫn tôi về thăm nhà, ông bà Mai Hoa vui vẻ tiếp. Như lời giới thiệu của anh Hiền, cô đang làm giáo viên Trường Cấp II Sa Đéc của thị xã, là con thứ 6 của gia đình, có ba người anh trai đi bộ đội chống Mỹ, một người đi chiến đấu tại chiến trường miền Nam chưa có tin tức. Hai người anh còn đang trong quân ngũ, một người vừa vào miền Nam tiếp quản, còn anh cả ở miền Bắc là bộ đội Hải quân. Có ba chị em gái đều làm giáo viên, hai chị đã lấy chồng, dạy học ở Cẩm Khê và Thanh Sơn. Ông bà Mai Hoa, đã ngoại bảy mươi tuổi rồi già yếu như bố mẹ tôi ở dưới nhà.
Ông bà là người họ Đặng có gốc họ hàng bên thị xã Sơn Tây. Nhưng lên ở đây làm nghề buôn bán lâu rồi. Nhà cửa mới đi sơ tán về ba năm nay, còn đang lợp lá cọ. Phố xã cũng chưa được sửa sang, nhà cửa chưa được xây dựng nên, trông còn nghèo nàn lắm. Cô Lý chưa xây dựng gia đình, nên vẫn ở chung với bố mẹ.
Tôi trình bày với ông bà Mai Hoa là muốn kết hôn với cô Lý, gia đình cho phép đi lại. Ông bà đã nghe cô Lý trình bày rồi, nên ông bà đồng ý ngay. Tôi nói với ông bà và cô Lý rằng, thứ 2 này tôi sẽ báo cáo lãnh đạo Tỉnh đội, các đồng chí ấy, sẽ cho người thẩm tra lý lịch gia đình và cô Lý, sau đó mới cho phép kết hôn theo nguyên tắc bảo vệ nội bộ. Nhưng lý lịch gia đình ta và cô Lý chẳng có vấn đề gì vướng mắc mà lo. Hai gia đình ta cứ chuẩn bị thủ tục làm lễ hỏi, lễ đăng ký, lễ cưới cho suôn sẻ, đúng lễ nghi, không sơ sài, cũng không làm quá mức, gây lãng phí tốn kém.
Ông Mai thân mật nói:
- Tôi đã nghe anh chị Hiền Thảo giới thiệu về anh, thương anh nhiều lắm. Bố mẹ đã đi xem thầy bảo hai con lấy nhau được, nên tổ chức vào tháng Mười. Định ngày lành tháng tốt thì chọn ngày mồng mười thì làm lễ hỏi và đến ngày mười sáu thì tổ chức đám cưới. Anh về bàn với ông bà, họ hàng nội ngoại ở dưới quê và anh em trong đơn vị bộ đội tổ chức theo đời sống mới, cho gọn nhẹ, thế là tốt đẹp.
Ông Mai nói xong, tự nhiên thấy hai ông bà cùng khóc. Tôi cũng cảm thấy bâng khuâng, không biết có điều gì làm ông bà mủi lòng. Sau đó được cô Lý phân trần rằng bố mẹ vừa mới nghe tin người con trai thứ 3 đã hy sinh ở chiến trường Nam Bộ. Nghĩ đến hạnh phúc của con gái út sắp lấy chồng làm sao không nhớ thương người con trai đã hy sinh ngoài mặt trận và các con còn ở xa. Nghe nói vậy, tôi không cầm được nước mắt càng thương yêu những người cha người mẹ đã hiến dâng những đứa con thân yêu của mình cho đất nước.
Trở về tôi báo cáo với Tỉnh đội trưởng Lê Đình Dật về việc cưới vợ. Ông biết hoàn cảnh của tôi nên rất thương. Ông cử người đi thẩm tra lý lích gọi là làm thủ tục, chứ ông và mọi người đều biết lý lịch gia đình và bản thân cô Lý như thế là rất tốt rồi. Ông bảo phần dạm hỏi thì tôi và gia đình tự lo, còn phần lễ cưới thì đơn vị lo cho, theo đời sống mới thì đơn giản thôi mà. Ông còn lo cho việc thuyên chuyển cô Lý về dạy học tại trường cấp II Minh Nông, thành phố Việt Trì, và xếp chỗ ở riêng cho vợ chồng tôi trong khu nhà tập thể của Tỉnh đội.
Lễ dạm hỏi và lễ cưới diễn ra tốt đẹp và long trọng. Bố mẹ tôi và bố mẹ cô Lý, gia đình anh Hiền rất vui vì đã làm được việc lớn là xây dựng gia đình cho hai người. Hai chúng tôi sống rất hạnh phúc, sinh được ba con, đứa con trai đầu lòng, học tập tốt, sau này là học sinh giỏi toán toàn quốc và hai đứa con trai và gái đẻ sau cũng học giỏi và chăm ngoan, các cháu đều trưởng thành, có nghề nghiệp và công tác tại Hà Nội. Hai đứa con vợ trước của tôi, được mẹ kế bảo ban, dạy dỗ chu đáo đều trở thành cô giáo và lấy chồng tại quê. Cô Lý luôn đạt giáo viên dạy giỏi, là điển hình về phong trào “Giỏi việc trường, đảm việc nhà”. Về con đường binh nghiệp của tôi cũng thuận lợi, tôi được đề bạt lên làm Chính ủy Tỉnh đội và sau đó về Cục Chính trị công tác đến khi về nghỉ hưu.
Bố mẹ tôi, bố mẹ cô Lý và cụ Đức bố anh Hiền đều thọ hơn tám mươi tuổi thì qua đời. Tang lễ của các cụ được tiến hành trọng thể và đều có mồ yên mả đẹp. Các cụ đều là những người cha người mẹ tốt, nên các thế hệ con cháu đều là những người có đạo đức và có tài năng.
Tôi và vợ tôi vẫn thường xuyên đi lại thăm nom vợ chồng anh chị Hiền Thảo, được chứng kiến cả sáu đứa con anh chị đều trưởng thành đều có nghề nghiệp và gia đình hạnh phúc. Anh chị được nhờ vả các con, nhưng cũng vất vả vì có nhiều con cháu phải bỏ nhiều công sức đỡ đần. Thỉnh thoảng gặp nhau, anh Hiền vẫn nhắc lại kỷ niệm ngày tôi về nhận quân tại thị xã Phú Thọ. Còn tôi nhớ mãi anh Hiền là người không có tên trong danh sách nhập ngũ; chính tôi đã mau chóng quyết định cho anh vào bộ đội vì tinh thần xung phong nhập ngũ với quyết tâm ra chiến trường chống Mỹ cứu nước lập công.
Anh Hiền lúc ấy đã lớn tuổi nhập ngũ theo lệnh tổng động viên, tham gia chiến đấu ở một nơi và vào một thời điểm ác liệt nhất. Song như có trời xếp đặt, anh đã về công tác chiến đấu cùng với tôi, trực tiếp cứu sống tôi, sau này anh lại là người có công tái lập gia đình hạnh phúc cho tôi. Một lần vui vẻ nhắc lại chuyện cũ, tôi hỏi về người có tên là Nguyễn Văn Hiên, gia đình vợ con anh ta thế nào.
Anh Hiền hồn nhiên trả lời:
- Những kẻ đảo ngũ và chần chuội nghĩa vụ cho người khác thì gia cảnh chẳng ra gì đâu. Anh Hiên đã chết đuối trong một đợt vớt củi trên sông Thao từ hơn hai mươi năm nay rồi. Vợ anh ta là kẻ lăng loàn, buôn gian bán lận, nên con cái càng hư, đứa thì trộm cắp, đứa thì tù tội vì nó theo gương xấu của bố mẹ nó. Chỉ những người cha mẹ tốt mới có được những người con đạo đức, tài năng, làm tròn nghĩa vụ đối với Tổ quốc, nhân dân và gia đình mình.
Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Quảng cáo

Tranh nghệ thuật

Một góc Phú Thọ

Thông tin

cỏ nhân tạo sân bóng đá