Danh mục

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 42

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 40


Hôm nayHôm nay : 1986

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 104612

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3605550

Đăng ký nhận bản tin

NHẬP EMAIL ĐỂ NHẬN ĐƯỢC NHỮNG THÔNG BÁO MỚI NHẤT TỪ CỔNG THÔNG TIN ĐÀO TẠO

Tìm kiếm

Ảnh nghệ thuật

CHA, MẸ VÀ CHUYỆN MA - Truyện ngắn của Inrasara

Thứ ba - 27/12/2016 21:06

Mẹ và cha, hai dòng sông đau khổ đổ vào bể khổ của cuộc đời. Mẹ và cha cơ khổ mọi bề. Cả từ phía con cái. Nên khi đã phần nào hiểu được nỗi đời, tôi tìm cách làm vợi bớt nỗi khổ kia và ráng tránh làm phiền lòng cha mẹ. Bởi, thời thanh niên, dù không cố ý, thứ tính khí đột hứng của tôi đã gây cho song thân bao buồn rầu. Đang làm việc ngon lành, nổi máu phiêu giạt là tôi bỏ làng đi lang thang. Chẳng một lời thưa với cha mẹ.

Đi và đi và đi… 
Biệt như mây thuở chưa kỳ hẹn sông

Có khi cả tháng trời mới lò mò về. Nhất là từ tuổi hai mươi. Năm 1978 tôi xuống tóc, vào chùa tại Nha Trang. Ba tháng sau, tôi bỏ chùa lang thang biển Ninh Chữ ở nhờ nhà người quen với nổi hứng học đòi làm đồ đệ Krishnamurti. Thế là mỗi mươi ngày mẹ đội gạo lứt muối mè xuống “thăm nuôi” tôi. Trong lúc tôi mơ màng suy tư về Tính thể và Thời gian hay làm thơ đuổi còng. Tôi còn mang ý định lên núi Chà Bang sống đời tu hành nữa. Hãy tưởng tượng, đó là vào năm cuối thập niên ‘70, nạn rầy nâu làm cho cả khu vực đồng lúa miền Trung mấy vụ mất trắng. Tôi nhớ lần đầu tiên mẹ mở to nhìn như ma nhập vào cái đầu cạo trụi lụi của tôi. Tôi không bao giờ quên ánh mắt đó: Chăm có ai cạo đầu như thế đâu, trừ phi hắn mắc chứng tróc vảy da đầu hay bị… khùng. Hiểu lòng mẹ cha, từ tuổi ba mươi, tôi không một lần hành xử dại dột như thế nữa.

Cha mẹ gặp nhau, sinh hai đứa đầu đều yểu. Bà con bày xin chị cả về nuôi - phải thật xấu mới thọ - từ đó anh em tôi mới trụ trên trần đời. Chị vừa xấu gái vừa thiểu năng trí tuệ nên học không vô, nhưng được cái lòng biết yêu thương đùm bọc lũ chúng tôi. Vậy đó, anh em tôi đã “sống theo” chị. Chị, rồi anh Đạm, rồi tôi, tới em gái sau đó là hai em trai. Sau em trai áp út, tôi còn có bé gái nữa. Trắng trẻo và xinh lắm - mẹ nói thế. Được ba ngày tuổi thì bé đi. Lúc đó vào khoảng tám giờ sáng, mẹ bảo anh Đạm chạy kêu cha đang cày dưới đồng Gam Dei. Tôi như kẻ ngoài cuộc. Dường như người lớn muốn giấu tôi chuyện gì đó. Bé chưa là thành viên trong gia đình nên họ không muốn cho trẻ con biết nhiều về nó. Chú Chương em rể mẹ làm vài nghi thức khá bí mật ở phòng trong. Non nửa giờ sau cha mới về tới. Rồi cha đi trước, chú Chương ôm một bọc nhỏ theo sau, cuối rốt là anh Đạm cắp mủng đựng chai rượu, trứng. Vội vã. Bé được chôn ở Prok Kamar. Lên rẫy, đi ngang mấy lần, dù muốn hỏi anh xem đâu là nấm mồ của bé, nhưng tôi cứ ngại. Từ đó, tôi mất hẳn dấu vết về em gái út của mình.

Mẹ sinh chẵn chục mười hai, cúng cho trời đất đến hơn phân nửa, chừa lại năm anh em tôi. Tôi ở giữa, được ưu tiên chuyện học hành, trong lúc anh Đạm dù khá thông minh nhưng vì mắc chăn trâu phải học năm đực năm cái, do đó đến năm lớp nhất, hai anh em tôi ngồi chung lớp. Em Lành dạy cấp hai, liên tục là giáo viên giỏi cấp tỉnh. Như vậy, anh em tôi đều được học hành bằng chị bằng em. Đó là niềm hãnh diện đồng thời là nguyên do bao nỗi cơ cực của cha mẹ, vốn nông dân vô sản toàn phần. Cha mẹ đều thọ, trên tám mươi cả. Cha đi, sau khi đã nhìn thấy đứa con cuối cùng có đôi có bạn. Còn mẹ, có tới hơn chục đứa chắt. Với Chăm, thế là đủ an tâm vĩnh viễn “về nhà”.

Cha đi khá nhanh, chỉ sau một tuần ngã bệnh, vừa kịp tôi lên xe đò Sài Gòn về đến. Sạch sẽ và nhẹ nhõm. Năm trước đó, mỗi chiều cha còn xách cuốc ra thăm ruộng. Chỉ một lần vấp bờ, anh em tôi nói quá, cha mới chịu ngồi nhà quanh quẩn với mấy cháu. Cha tắt thở, tôi hôn lên trán cha, nhưng tôi không khóc. Mẹ - tôi đã không ngăn được nước mắt. Có lẽ bởi mẹ “chết khó” hơn. Bốn mươi ngày “nhớ quê nằm bỏ cơm”, hai bận tôi bỏ việc Sài Gòn nhảy xe về. Vẫn sạch sẽ, vẫn nhẹ nhàng, nhưng mẹ phải qua ba lần bồng xuống chiếu pôk trun.

Cha cực lắm. Làm ruộng rẽ xa nhà gần mươi cây số. Đời nông dân một cảnh hai quê. Tôi nhớ anh Đạm hay bệnh vặt, có chuyện là mẹ cho người chạy ra ruộng kêu cha. Lại phải bỏ cày về. Xoong cơm treo lên cây là mồi ngon cho lũ kiến, hay cất giữa ruộng nước không ít lần chó tha. Lắm lúc, xong buổi cày chiều, cha dắt tay anh Đạm, còn tôi lúc đó chừng hai tuổi bám trên lưng, lội bộ về Cakleng. Tới nơi thì trời đã tối mò, cha kêu lính canh.

- Chú Piêt nó ơi! Chú Piêt… mở cổng giùm mình đi - Tôi còn nhớ mồn một tiếng cha gọi rất to.

- Ai đó?

- Tôi đây mà, phó Thảo đây.

Ba cha con tôi đợi chú mở hai lần cổng ấp chiến lược. Con Mực mừng hết biết, vẫy đuôi nhảy chồm lên hết người này đến người khác. Kéo dài mãi vậy cho đến năm tôi vào lớp năm, gia đình mới định cư hẳn ở Cakleng. Tôi được cái thông minh. Hôm đầu tiên, các bạn đều đến trường, riêng tôi thầy không cho vào lớp vì “nó còn bé lắm”. Tôi chạy về khóc lăn lộn, mẹ phải dắt tay qua năn nỉ thầy cho hắn ngồi “học gửi” vài hôm để hắn đỡ nhớ đám bạn chơi, sau đó cho hắn nghỉ cũng được. Rồi thì tôi đọc làu làu tất cả bài học. Ông thầy không biết tôi đã thuộc sách lớp tư của ông anh. Thế là tôi được ngồi tiếp.

Chúng tôi hưởng cả đức cha lẫn mẹ. Mẹ hay giúp người, một tay gánh vác cả chuyện của chi họ. Cha thì đến con kiến có cắn cha chỉ đưa tay phủi nhẹ chứ không sát. Trưa. Mưa. Trên đám ruộng ải, rắn nước ơi là rắn nước. Đến vài chục con bò ra khỏi hang tìm mồi. Có con to bằng bắp tay. Tôi với anh Đạm chơi trò đuổi đá chúng. Thấy vậy cha bảo tụi bây tha cho chúng đi, chúng có cắn ai đâu.

Cha lành là vậy, nhưng không hiểu sao từ khi cha mất, lâu lâu tôi vẫn nằm mãi mơ thấy cảnh mai táng cha, cả khi cha đã được làm lễ hỏa táng hay hai năm sau đó, khi đã vào Kut. Lạ, riêng mẹ thì chưa. Mộ mẹ ở đầu bên kia nghĩa trang làng, ngay lối vào đám rẫy. Nghĩa trang nằm trên mô đất cát cao, cách làng non cây số. Từ dưới chân mô đất đi lên cổng rẫy hơn trăm thước. Xưa, cây cối um tùm, lối đi chỉ vừa đủ thân người lách qua. Muốn vào rẫy, tôi và anh Đạm phải đi qua ít nhất ba, bốn nấm mộ mới. Canh đám két ăn bắp vừa ra hạt thì lên vào tảng sáng hay lúc mặt trời gác núi, còn canh loài dông ăn chồi dưa non lại phải đúng trưa nắng. Nghĩa là toàn giấc vắng người. Ma hù hay vãi cát thì chết khiếp. Vậy mà lắm lúc tôi phải lên rẫy một mình. Cứ đóng cửa rẫy xong là tôi nhắm mắt ù chạy.

Mẹ cũng có gien sợ ma, nên hay dẫn tôi đi theo mỗi khi lên rẫy. Sáng nọ, giận mẹ sao ấy, trên đường về, tôi lủi vào đám trâm bầu trốn tịt khiến mẹ huy động anh em họ đi tìm, réo ơi hỡi tôi mới chịu bò ra. Họ bảo tôi bị ma giấu. Mẹ một phen hú hồn.

Lại chuyện sợ ma. Thuở tôi đang Đệ Lục trường Pô Klong ở thị xã Phan Rang. Thứ Bảy về quê. Đã sáu rưỡi tối, cha đi theo nước ruộng vẫn chưa thấy về. Không hiểu sao nhà vắng tanh, cả ông anh cũng không có nhà. Mẹ sai tôi xách cơm ra ruộng tìm cha. Không thì cha mầy đói – mẹ nói.

Trời đất! Tôi chúa sợ ma, mà cánh đồng tối om om kia cách làng đến hơn cây số. Vài khúc sông phải lội qua, bao lùm cây, mấy lối quanh ngả quẹo… Ngán nhất là đồi đá xương rồng Danao Eh âm âm u u nằm ngay mé ngoài cổng ấp chiến lược. Từ đồi đá đó, sáu giờ tối là bắt đầu dậy lên mùi thối kỳ lạ mà mẹ bảo “mùi canh ma”, sau tôi mới hiểu đó là hương loài hoa độc nở về đêm. Đi đâu về tối, tôi đã cắm đầu chạy thục mạng vượt mấy chục bước dài qua cái đồi đá chết tiệt ấy. Còn hôm nay, tôi phải đi một mình. Đi, chứ không phải về…

Tôi đã có lần gặp ma. Năm 1988, lại một căn nhà cổ từng bỏ hoang ở cuối làng Cakleng. Căn nhà rách nát gia đình tôi tha hương trở về ở tạm chưa đầy năm. Hani sinh Jaya được một tuần. Tôi ngủ mép ngoài giường canh bé, Hani nằm phía trong. Nửa đêm, tôi mơ hồ nhìn thấy hai bàn tay đen thui nắm hai chân mình, kéo. Lúc đó hai mắt tôi nhim nhim, mơ mơ màng màng. Tôi không kêu Hani dậy, hai tay nắm lấy thanh gỗ giường, cố dùng hai bàn chân đạp chận vào bức tường đối diện để khỏi rớt xuống. Nửa mình tôi chơi vơi thế khá lâu. Tôi bỗng đạp mạnh. Sự gắng sức quá mức khiến tôi vùng thức giấc. Tôi ngồi dậy, quan sát xung quanh: không gì cả. Hai bàn tay kia biến đâu mất. Tôi ngủ tiếp. Lại nó xuất hiện lần nữa, hành vi tương tự. Tôi cố định tâm theo dõi nó. Tôi nhớ đã đọc đâu đó rằng âm khí dễ nhiễm độc môi trường. Chỉ có loài sắt mới trị nó. Tôi tìm lấy cây thuổng đặt ngay dưới gối nằm. Mãi lúc đó nó mới chịu yên.

Lúc này cha đang theo nước ngoài kia. Dẫu sợ cách mấy, tôi không chối được.

Đến đồng Hamu Luk thì trời đã tối mò. Không thấy cha đâu cả. Tôi kêu to vài tiếng: không một âm vọng. Tôi vừa chạy vừa kêu, cha ơi cha. Vắng ngắt. Tôi hoảng lên, và khóc như con nít. Thế là nhắm mắt nhắm mũi chạy ngược về. Lúc này mới hãi nhất. Bởi, sau lưng không còn ai cả. Sông nước, gai nhọn, lầy lội… Bất kể, tôi chạy và chạy. Tôi đụng ngay cha đang gấp gáp bước ra cửa ngõ nhà tính đi tìm con. Cha ôm lấy tôi, thật chặt.

Tôi làm bất kỳ chuyện lớn nhỏ nào cũng khá. Mở quán cà phê - tạp hóa, vẫn chỗ ấy, trước bao nhiêu người thuê đều thất bại, tôi làm: khá. Kế toán hợp tác, chích heo, câu cá cho đến làm thơ, nghiên cứu... Biết cha có hãnh diện về mấy vụ đó không nữa. Tôi không mang mấy cuốn sách hay thành tích ra khoe cha. Tôi chưa rước cha vào thăm nhà tôi mới tậu ở Sài Gòn, để cha biết qua sinh hoạt của dân thành phố. Cha cũng không có vẻ thích chuyện ấy. Nhưng điều tôi biết chắc là cha rất vui khi biết tôi có công trình về các ariyaChăm, về Ariya Glơng Anak.

Chính cha là người vỡ lòng tôi những con chữ cái Akhar thrah đầu tiên…

Nguồn: daibieunhandan.vn

Tác giả bài viết: Inrasara

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Quảng cáo

Tranh nghệ thuật

Một góc Phú Thọ

Thông tin

cỏ nhân tạo sân bóng đá