TRONG NỀN VĂN HÓA DÂN GIAN ĐẤT TỔ (Nguyễn Hữu Nhàn)

Việt – Mường và Tày – Thái là hai nhóm chính của người Việt cổ cư trú ở Đất Tổ Phú Thọ. Văn hoá vùng Đất Tổ vì thế mang đậm sắc thái văn hoá Việt – Mường và Tày – Thái.

Đoạn sông Hồng chảy qua Phú Thọ được mang tên theo ngữ hệ Tày – Thái cổ là dòng Nậm Tao, dịch ra tiếng Việt là sông Thao. Dọc bờ hữu ngạn sông Thao xa xưa là địa vực cư trú của người Tày – Thái cổ. Thời Hùng Vương một bộ tộc người Tày, họ Ma cư trú ở vùng chân núi Đọi Đèn thuộc huyện Sông Thao. Ông tổ họ Ma, tên là Ma Khê được Vua Hùng phong làm Lương tướng. Vị Lương tướng họ Ma thường hội kiến với Vua Hùng và thánh Tản Viên ở làng Văn Khúc. Đình làng Văn Khúc thờ Ma Khê có sắc phong ông là “Phụ Quốc đại thần đại tướng quân Ma Khê” vì tương truyền ông được vua phong chức quan đầu triều lo về chính sự thay vua cha khi già yếu và giúp vị vua trẻ lúc mới kế vị ngai vàng. Ma Khê lấy người con gái ở chân núi Vi, cạnh Đền Hùng. Về sau ông chuyển cả bộ tộc sang tả ngạn sông Thao. Cháu chắt ông là Ma Xuân cho đắp thành trồng lũy gọi là Ma Thành, gọi chệch là Thành Mè. Ngày nay thị xã Phú Thọ có chợ Mè, nền móng Thành Mè và ở phố Phú An có đền thờ ông là vì vậy. Vào thời loạn lạc 12 xứ quân cát cứ, cháu chắt Ma Khê là Ma Xuân Trường, cầm đầu Ma tộc trấn giữ Thành Mè. Khi thành Hội Hồ (ở làng Văn Khúc) bị thất thủ, tướng quân Kiều Công Thuận chạy sang Ma Thành cùng với Ma Xuân Trường chống lại Đinh Bộ Lĩnh. Kiều Công Thuận tử trận, Ma Xuân Trường chạy lên Tuần Quán, Trấn Yên, Yên Bái. Sau mất ở đấy, được dân làng lập đền thờ và Đinh Bộ Lĩnh vì thán phục uy đức mà truy phong ông là “Ma tộc thần tướng”. Nay ở làng Trù Mật, thị xã Phú Thọ cũng có đền thờ Kiều Công Thuận và Ma Xuân Trường. Dòng họ Ma nay cư trú ở thị xã Phú Thọ, Lâm Thao hậu duệ của bộ tộc ấy hiện có một chi nhánh cư trú ở Việt Trì có gia đình cụ Ma Văn Thực nguyên chủ nhiệm Liên hiệp hợp tác xã thủ công nghiệp Vĩnh Phú. Hiếm có dòng họ nào lưu giữ được Thần phả, gia phả dựa theo truyền thuyết từ thời Hùng Vương như họ Ma ở Phú Thọ. Họ Ma gốc Tày cũng như nhiều họ gốc Mường: Đinh, Quách, Bạch, Hà… là những nhóm cư dân Việt cổ phát triển lên thành người Việt hiện nay.

Các truyền thuyết về Ma Khê và Tản Viên ở vùng Đất Tổ cũng nói đến sự hội nhập của 2 nhóm Việt – Mường và Tày – Thái ở Phú Thọ. Tản Viên chính là người Mường. Dù Tản Viên đã được thần thoại hóa đến hoang đường nhưng bóc bỏ lớp huyền thoại ta vẫn tìm được lõi thật lịch sử: Ông là con một bà người Mường có tên là Đinh Thị Đen quê ở chân núi Thu Tinh làng Yên Sơn. Bà lấy chồng rồi về sống, sinh đẻ Tản Viên ở động Lăng Xương, làng Trung Nghĩa bên bờ sông Đà thuộc Phú Thọ. Ông được dân gian tôn sùng đắp vẽ thành một thần tượng của cộng đồng, vừa là anh hùng trận mạc vừa là anh hùng văn hóa. Ông đánh giặc tài lại có công chống lại Thủy Tinh biểu tượng của thiên tai lũ lụt. Ông là người anh linh nghĩa cử khước từ ngôi báu, khuyên vua cha nhường ngôi cho Thục Phán để muôn dân thái bình. Thục Phán cũng gốc Tày – Thái quản lĩnh miền rừng núi phía trên nước Lạc Việt của các vua Hùng.

Yếu tố Việt – Mường và Tày – Thái còn biểu hiện ở sự pha trộn ngôn ngữ. Ngôn ngữ Tày – Thái cổ gọi tre là pheo, gọi chim là chóc, gọi chó là má, để đan xen thành những từ ghép trong tiếng Việt như: Tre pheo, chim chóc, chó má, chân thật. Cũng ghép như vậy với tiếng Mường để có các từ ghép: Cá mú, nắng nôi, mùa màng, đồng áng…

Ở Khu di tích Đền Hùng có 3 quả núi, trong đó có núi Nỏn, cạnh núi Nghĩa Lĩnh đặt tên theo ngữ hệ Tày – Thái: Nỏn là út vì thế quả núi còn tên nôm thuần Việt một âm tiết là núi Út.

Ở xã Hy Cương, nơi có Đền Hùng, bên cạnh núi Nghĩa Lĩnh, nay vẫn còn một xóm có tên là xóm Bản Pheo. Ắt hẳn người Tày Thái cổ đến cư trú lập bản ở đây. Do có nhiều tre nên người ta gọi xóm bản của mình là Bản Pheo (Pheo là tre) ngày nay xóm Bản Pheo vẫn chìm ngập trong bóng tre.

Xòe là múa dân gian của đồng bào Thái, người Mường ở các xã sát Sơn La, Nghĩa Lộ xưa cũng hay xòe. Phụ nữ Mường ở các xã đó tuy mặc áo cóm và áo dài kiểu Mường truyền thống nhưng khuy cài cúc cũng khâu dải ngang. Cổ và hai nẹp áo trước ngực cũng thêu như áo phụ nữ Thái và đầu vấn khăn piêu theo kiểu Thái. Người Mường ở vùng này cũng gọi quan đầu Mường của mình là ông quan ngài như người Thái.

Có một họ Hà thờ con cuốc vì truyền thuyết họ Hà này cùng họ hàng với Thục Đế (họ Thục Phán). Con cuốc là tổ tiên của Thục Phán (theo tô tem giáo).

Vùng Mường ở Phú Thọ vì thế có pha trộn văn hóa Tày – Thái ở cận kề.

Tiếng Mường và Tày – Thái đều gọi ruộng làNa hoặc gọi chệch Na thành nà. ở vùng người Việt Phú Thọ cũng nhiều nơi gọi ruộng là Na như ở Tứ Xã (một xóm), Sơn Vi, Do Nghĩa, Hà Thạch, Thụy Vân. Làng Cao Xá có những khu đồng như: Là Pheo, Là Giũa, Là Đỏ…

Một tấm bia trên Đền Hùng có 50% số địa danh được ghi là na như na Hưu, na Dầu, na Lao, na Hoàng…

Vì nước Văn Lang thời các vua Hùng là nước của người Lạc Việt (Việt – Mường) nên yếu tố Mường đậm đặc hơn yếu tố Tày – Thái trong nền văn hóa dân gian vùng Đất Tổ.

Nhà Lê lấy động làm tên gọi điểm tụ cư của người thiểu số như người Việt gọi là Kẻ, Chạ, thôn, làng. Trước đây người Mường vẫn gọi điểm tụ cư của mình là động. Triều đình gọi là các động Man. Ở Phú Thọ cũng có các địa danh gọi là động như động Khuất Lão ở huyện Tam Nông, động Lăng Xương ở Thanh Thủy – thị xã Phú Thọ cũng có thời gọi là Phú An động. Thị trấn Hưng Hóa gọi Hoa Nham động. Làng Cự Đà (Phù Ninh) thời nhà Lý còn gọi là động Cự Đà…

Riêng Phú Thọ gọi các ông già bà lão là bủlà do ảnh hưởng phong tục Mường. Người Mường Phú Thọ gọi những người già đã có chắt (cháu 4 đời) là bủ. Từ đấy người Kinh ở Đất Tổ gọi gộp những người già sáu bảy mươi tuổi đổ lên là bủ để tỏ lòng tôn kính.

Người Mường có tục gọi vía lúa, những năm mất mùa người ta phải đi gọi vía lúa về làng bản của mình. Người ta phải làm lễ cúng vía lúa rồi thầy mo hoặc một người hát rang gọi vía lúa, rủ rê vía lúa về với mình.

Nếu như người Mường thuộc Mường Kịt có bài hát rang gọi vía, thì người Việt ở làng Nam Cường (huyện Tam Nông) lại có tục múa mo. Có chúa mo đứng chủ trò. Chúa mo có nguồn gốc từ các ông mo là người hoạt động về tín ngưỡng, tâm linh của các cộng đồng người Mường.

Các lễ hội về mùa màng của người Việt cũng gần giống như của người Mường: Lễ hạ điền, thượng điền, cơm mới…

Nhiều làng Mường và Việt ở Phú Thọ cũng thờ Tản Viên làm Thành hoàng.

Nếu như nhiều làng Mường thờ dâm thần như ở Thu Cúc xưa có đình miếu thờ nam thần dâm ở xóm Quẽ, nữ thần dâm ở Đồng Than thì nhiều làng Việt ở Tam Nông, Lâm Thao, Sông Thao cũng có tục cầu thờ sinh thực khí như thờ nõ nường ở Tứ Xã, Sai Nga. Thờ Kén (30 cặp sinh thực khí nam) ở làng Dị Nậu…

Nếu như người Mường làm nhà mồ chia của cho người chết thì người Việt cũng có tục đem theo đồ dùng cho người chết gọi là đồ tuỳ táng.

Các hình thức cưới xin của người Việt cũng tương tự người Mường như tục nòm (ăn hỏi) đưa đón dâu, của hồi môn… Người Việt và người Mường đều có các trò chơi ném còn, cướp phết; từ đu cọn của người Mường, người Việt đã làm ra đu tiên. Cả hai dân tộc đều hát ví, hát đúm, đều ăn trầu nhuộm răng, xăm mình…

Người Mường Thanh Sơn có tục hát nàng bung nàng bạn. Những đêm trăng thanh gió mát các nhà mày (đạo diễn) trải 6 chiếc chiếu ra bãi cỏ cho nam thanh nữ tú vào hát đua tài.

Có hát các tích truyện thơ Mường, chỉ có hát mà chưa có diễn, có tích nhưng chưa dịch ra trò, phải chăng chiếu nàng bung nàng bạn là tiền thân chiếu chèo của người Việt ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ.

Văn hoá vùng Đất Tổ là sự kế thừa phát huy văn hoá gốc Lạc Việt (Việt Mường), Tày – Thái và tiếp thụ các dòng văn hóa khác qua hàng ngàn năm giao thoa hội nhập với các vùng khác, các tộc người khác.

1 comment

  1. Văn hoá vùng Đất Tổ là sự kế thừa phát huy văn hoá gốc Lạc Việt (Việt Mường), Tày – Thái và tiếp thụ các dòng văn hóa khác qua hàng ngàn năm giao thoa hội nhập với các vùng khác, các tộc người khác.

Trả lời Một người bình luận Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.